|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 138/2023/HS-PT Ngày: 27-12-2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Thái, ông Đặng Văn Cường
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 113/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo Trần Thị D và Phạm Thị T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Phạm Thị T, sinh năm 1985 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Xóm E, thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ văn hóa (học vấn): 8/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm P (đã chết) và bà Lê Thị H, sinh năm 1962. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 31/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 04 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Có chồng là Phạm Văn T1, sinh năm 1983; có 02 người con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2012. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Hiện đang tại ngoại. (Có mặt).
- Trần Thị D, sinh năm 1972 tại Trà Vinh; Nơi cư trú: Tổ C, thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ văn hóa: 3/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nữ. Tôn giáo: Thiên Chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn Y (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1953. Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 41/2017/HSST ngày 28/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Đánh bạc”. Có chồng là Trương Văn H1, sinh năm 1968, có 01 người con sinh năm 1993; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện đang tại ngoại (Có mặt).
- Những bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị:
- Trương Thị Thúy H2, sinh năm 1973 tại Quảng Trị; Nơi cư trú: Xóm D, thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận;
- Đỗ Thị H3, sinh năm 1976 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Xóm 04, thôn 02, xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận
- Võ Quốc T2, sinh năm 1976 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Xóm 06, thôn 01, xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận
- Nguyễn Thị Lệ H4, sinh năm 1986 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận
- Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1990 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận
- Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1990 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Xóm 04, thôn 01, xã Đồng Kho, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận
- Trần Đình T4, sinh năm 1975 tại Bình Định; Nơi cư trú: Thôn F, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng
Tất cả đều vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Phạm Trọng T5, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt).
- Phạm Văn T1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thị T là chủ quán cà phê tại nhà ở thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận, T thường mua bài tây loại 52 lá về để ở quán phục vụ cho khách đến quán đánh bài uống nước hoặc đánh bài ăn tiền, T thì vừa bán nước vừa thu tiền xâu.
Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 01/12/2022, Trương Thị Thúy H2, Đỗ Thị H3, Võ Quốc T2 và Trần Thị D cùng đến quán cà phê của Phạm Thị T để uống nước. Trong quá trình ngồi uống nước thì H2, H3, T2 và D rủ nhau đánh bài ăn tiền dưới hình thức đánh phỏm thì mọi người đồng ý lập sòng đánh bạc.
Khoảng 13 giờ cùng ngày Nguyễn Thị Lệ H4, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Ngọc V và Trần Đình T4 cũng đến quan cà phê của T uống nước. Lúc này T3 hỏi T “Chị T có ai chơi gì không”, T nói “Đủ tay rồi đó, chơi gì thì chơi” tức là T nói có đủ bốn người rồi, muốn đánh bài thì đánh, T nói xong thì đi về nhà. H4, T3, V và T4 rủ nhau lập sòng bài thứ hai đánh bài ăn tiền dưới hình thức đánh bài phỏm.
Do tại quán cà phê của Phạm Thị T có sẵn bài nên mỗi người đến tự lấy bài ra chơi. Khi đánh, cả hai sòng bạc đều quy ước như sau: Bị ăn lá bài đầu tiên (gà 1) là thua 50.000 đồng; bị ăn lá bài thứ 2 (gà 2) là thua 100.000 đồng; bị ăn lá bài thứ 3 (chốt hạ) là thua 200.000 đồng. Còn “Ừ” thường là thua 300.000 đồng; “Ừ” tròn là thua 600.000 đồng; “Ừ” đền là thua 1.250.000 đồng. Thua chót là 150.000 đồng; Thua thứ 2 là 100.000 đồng; Thua thứ 3 là 50.000 đồng, đồng thời ai thua gà nào thì tính tiền thêm gà đó. Ai cháy (không có phỏm) thì thua 200.000 đồng. Trong quá trình đánh bạc ai “Ừ” thì đóng tiền xâu 50.000 đồng cho chủ quán.
Sòng thứ nhất, gồm: Trương Thị Thúy H2 mang theo 700.000 đồng để đánh bạc, đánh thua hết 250.000 đồng; Đỗ Thị H3 mang theo 1.000.000 đồng để đánh bạc, đánh thua hết 600.000 đồng; Võ Quốc T2 mang theo 4.000.000 đồng để đánh bạc, đánh thắng 800.000 đồng; Trần Thị D mang theo 360.000 đồng để đánh bạc, đánh không thắng, không thua. Trong lúc chơi bài đã bỏ tiền xâu cho chủ quán Phạm Thị T được 50.000 đồng.
Sòng thứ hai, gồm: Nguyễn Thị Lệ H4 mang theo 1.200.000 đồng để đánh bạc, đánh thua hết 600.000 đồng; Nguyễn Thanh T3 mang theo 500.000 đồng để đánh bạc, đánh thắng 400.000 đồng; Nguyễn Ngọc V mang theo 1.400.000 đồng, sử dụng 900.000 đồng để đánh bạc, đánh thua 200.000 đồng; Trần Đình T4 mang theo 4.000.000 đồng để đánh bạc, đánh thắng 400.000 đồng. Trương Thị Thúy H2, Đỗ Thị H3, Võ Quốc T2, Trần Thị D, Nguyễn Thị Lệ H4, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Ngọc V và Trần Đình T4 đánh bạc đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì 02 sòng bạc trên bị bắt quả tang, Trần Thị D bỏ chạy khỏi hiện trường. Quá trình điều tra Trần Thị D đã giao nộp 360.000 đồng tiền đánh bạc.
Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là:
Sòng thứ nhất: 5.010.000 đồng. (Tiền thu trên chiếu bạc: 600.000 đồng; Tiền thu trong người các con bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 4.000.000 đồng (của Võ Quốc T2) và 50.000 đồng tiền xâu.
Sòng thứ hai 6.600.000 đồng. (Tiền thu trên chiếu bạc: 1.800.000 đồng; Tiền thu trong người các con bạc sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 4.800.000 đồng (Huyền 500.000 đồng; V 200.000 đồng, T3 500.000 đồng và Tá 3.600.000 đồng)).
- Vật chứng thu giữ:
+ Sòng bạc đánh bài phỏm thứ nhất: Tổng số tiền thu giữ: 5.010.000 đồng, gồm: 600.000 đồng tiền thu trên chiếu bạc, 50.000 đồng tiền xâu bỏ trong ca nhựa để trên chiếu bạc, 360.000 đồng tiền đánh bạc Trần Thị D tự nguyện giao nộp, 01 bộ bài tây loại 52 lá, 01 cái chăn, 4.000.000 đồng tiền thu trong người của Võ Quốc T2.
+ Sòng bạc đánh bài phỏm thứ hai: Tổng số tiền thu giữ: 6.600.000 đồng, gồm: 1.800.000 đồng tiền thu trên chiếu bạc, 01 bộ bài tây loại 52 lá, 4.800.000 đồng tiền thu trong người các con bạc, gồm: Nguyễn Thị Lệ H4 500.000 đồng; Nguyễn Ngọc V 700.000 đồng, trong đó (500.000 đồng không sử dụng vào đánh bạc); Nguyễn Thanh T3 500.000 đồng; Trần Đình T4 3.600.000 đồng; Võ Quốc T2 đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính 600.000 đồng đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 136; Điều 260; Điều 290; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Về tội danh:
1.1 Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: Các bị cáo Trương Thị Thúy H2, Đỗ Thị H3, Trần Thị D, Võ Quốc T2, Nguyễn Thị Lệ H4, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Ngọc V và Trần Đình T4 đều phạm tội “Đánh bạc”.
1.2 Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị T, phạm tội “Gá bạc”.
2. Về hình phạt:
2.1 Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt: Phạm Thị T 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2.2 Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt: Trương Thị Thúy Hằng 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án;
- - Xử phạt: Trần Thị D 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án;
- - Xử phạt: Nguyễn Thị Lệ H4 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2.3 Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự:
- - Xử phạt: Đỗ Thị H3 số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng);
- - Xử phạt: Võ Quốc T2 số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng);
- - Xử phạt: Nguyễn Thanh T3 số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng);
- - Xử phạt: Nguyễn Ngọc V số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng);
- - Xử phạt: Trần Đình T4 số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 08 tháng 9 năm 2023, bị cáo Trần Thị D có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023, bị cáo Phạm Thị T có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xin giảm nhẹ mức hình phạt và được ở lại địa phương để lo cho gia đình.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo Trần Thị D, Phạm Thị T đều xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo vì các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và bị bệnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Thị T về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự và Trần Thị D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Trên cơ sở đó, Tòa án sơ thẩm tuyên phạt mỗi bị cáo 06 tháng tù là phù hợp. Xét thấy, khi xét xử sơ thẩm Tòa án đã xem xét những tình tiết giảm nhẹ trên cho các bị cáo và bản thân các bị cáo có nhân thân xấu, đã từng phạm tội đánh bạc nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên hình phạt tù theo bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Thị D, Phạm Thị T nộp trong thời hạn và đúng quy định pháp luật nên vụ án được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng, tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Trần Thị D, Phạm Thị T đều khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Gá bạc” và “Đánh bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng, không oan. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử đã căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo và tuyên phạt mỗi bị cáo mức án 06 tháng tù là phù hợp, không nặng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên kháng cáo và cho rằng, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt mỗi bị cáo mức án 06 tháng tù là quá nghiêm khắc nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo hoặc chuyển sang loại hình phạt khác để có điều kiện chữa bệnh cũng như chăm lo cho gia đình. Cùng với việc kháng cáo, bị cáo Phạm Thị T xuất trình các tài liệu, chứng cứ mới thể hiện bị cáo đang mắc bệnh động kinh phải điều trị, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn đang nuôi cha mẹ già và con nhỏ, là lao động chính trong gia đình. Bị cáo Trần Thị D xuất trình tài liệu thể hiện bị cáo đang mắc bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin và chồng bị cáo cũng đang bị bệnh sạn thận, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Đ. Tuy nhiên, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét áp dụng cho các bị cáo.
Các bị cáo Phạm Thị T và Trần Thị D đã từng bị kết án về tội “Đánh bạc”, bị cáo T đã từng chấp hành hình phạt tù, bị cáo D bị xử phạt tù nhưng được cho hưởng án treo nhưng các bị cáo đều không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội liên quan đến đánh bạc. Điều đó thể hiện các bị cáo có thái độ xem thường pháp luật nên Tòa án cấp sơ thẩm khi xét xử đã xem xét đến nhân thân của các bị cáo để tuyên phạt mỗi bị cáo mức án 06 tháng tù là đúng pháp luật.
Xét thấy: Tại đơn kháng cáo cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo Trần Thị D, Phạm Thị T không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự gì mới để xem xét. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[3] Đối với những vấn đề không có kháng cáo, kháng nghị nhưng cần rút kinh nghiệm trong bản án sơ thẩm:
[3.1] Đối với bị cáo Nguyễn Thị Lệ H4 trong phần nhận định thể hiện bị cáo đang mang thai nhưng trong phần quyết định không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là có thiếu sót (theo Mục 9 phần I Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của Tòa án nhân dân tối cao).
[3.2] Đối với các bị cáo Đỗ Thị H3, Võ Quốc T2, Nguyễn Thị Lệ H4, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Ngọc V và Trần Đình T4 đều phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự với mức phạt tiền thấp nhất là 20.000.000 đồng, Tòa sơ thẩm xử phạt các bị cáo với mức phạt 15.000.000 đồng là xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhẹ nhất, mặc dù trong phần Quyết định có áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, nhưng trong phần Nhận định cần áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự để nhận định rõ lý do của việc giảm nhẹ.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV, các bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo: Phạm Thị T, Trần Thị D. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2023/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.
1. Về tội danh:
1.1 Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Gá bạc”.
1.2 Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị D phạm tội “Đánh bạc".
2. Về hình phạt:
2.1 Xử phạt: Phạm Thị T 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
2.2 Xử phạt: Trần Thị D 06 (sáu) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án;
3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào Điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Phạm Thị T, Trần Thị D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 27/12/2023)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Minh Tuấn |
Bản án số 138/2023/HS-PT ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về vụ án hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc và gá bạc)
- Số bản án: 138/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc và Gá bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị T là chủ quán cà phê tại nhà ở thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận, T thường mua bài tây loại 52 lá về để ở quán phục vụ cho khách đến quán đánh bài uống nước hoặc đánh bài ăn tiền, T thì vừa bán nước vừa thu tiền xâu. Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 01/12/2022, Trương Thị Thúy H2, Đỗ Thị H3, Võ Quốc T2 và Trần Thị D cùng đến quán cà phê của Phạm Thị T để uống nước. Trong quá trình ngồi uống nước thì H2, H3, T2 và D rủ nhau đánh bài ăn tiền dưới hình thức đánh phỏm thì mọi người đồng ý lập sòng đánh bạc. Khoảng 13 giờ cùng ngày Nguyễn Thị Lệ H4, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Ngọc V và Trần Đình T4 cũng đến quan cà phê của T uống nước. Lúc này T3 hỏi T “Chị T có ai chơi gì không”, T nói “Đủ tay rồi đó, chơi gì thì chơi” tức là T nói có đủ bốn người rồi, muốn đánh bài thì đánh, T nói xong thì đi về nhà. H4, T3, V và T4 rủ nhau lập sòng bài thứ hai đánh bài ăn tiền dưới hình thức đánh bài phỏm. Do tại quán cà phê của Phạm Thị T có sẵn bài nên mỗi người đến tự lấy bài ra chơi. Khi đánh, cả hai sòng bạc đều quy ước như sau: Bị ăn lá bài đầu tiên (gà 1) là thua 50.000 đồng; bị ăn lá bài thứ 2 (gà 2) là thua 100.000 đồng; bị ăn lá bài thứ 3 (chốt hạ) là thua 200.000 đồng. Còn “Ù” thường là thua 300.000 đồng; “Ù” tròn là thua 600.000 đồng; “Ù” đền là thua 1.250.000 đồng. Thua chót là 150.000 đồng; Thua thứ 2 là 100.000 đồng; Thua thứ 3 là 50.000 đồng, đồng thời ai thua gà nào thì tính tiền thêm gà đó. Ai cháy (không có phỏm) thì thua 200.000 đồng. Trong quá trình đánh bạc ai “Ù” thì đóng tiền xâu 50.000 đồng cho chủ quán.
