Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 138/2022/HS-ST

Ngày 10 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị An

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Ninh

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Quyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2021 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 131/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Văn B, tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 09 tháng 02 năm 1974; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 22, phường Phan P, thành phố N, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: không; con ông: Nguyễn Văn M, sinh năm 1945; con bà: Dương Thị T, sinh năm 1945; vợ: Nguyễn Thị Như H, sinh năm 1977; có 01 con, sinh năm 1996; gia đình có 2 anh em; Bị cáo là con thứ nhất.

- Tiền án: 01. (Tại Bản án số 17/HSST ngày 14/01/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên và Bản án 901 ngày 23/5/2000 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội, xử phạt Nguyễn Văn B tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại Quyết định số 402/QĐCTN ngày 22/5/2001 của Chủ tịch nước ân giảm án tử hình cho B xuống tù chung thân và quá trình thi hành án B được giảm 7 lần tù chung thân xuống 20 năm tù. Ra tù ngày 05/10/2015. Chưa thi hành phần án phí và hình phạt bổ sung.

- Tiền sự: Không

1

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2021 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Thị Như H, sinh năm 1977.

Trú tại: Tổ 22, phường P, thành phố N, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Ông Vũ Đức H, sinh năm 1955

Trú tại: Tổ 26, phường P, thành phố N, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/12/2021, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực đường Xuân Hòa, thuộc tổ 26, phường P, thành phố N, thì phát hiện 1 người đàn ông đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra và mời người chứng kiến tham gia kiểm tra hành chính, qua kiểm tra người đàn ông khai tên: Nguyễn Văn B và tự giác lấy từ túi quần phía trước bên trái mà B đang mặc ra 01 gói nilon màu xanh bên trong có 06 gói nilon màu đen, bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột màu trắng; 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 03 gói nilon màu xanh, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng; 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa 08 gói nilon màu đen bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng và từ túi quần sau bên trái của B 02 gói nilon màu đen bên trong mỗi gói đều chứa 01 gói nilon màu xanh có chứa chất bột màu trắng, giao nộp cho tổ công tác. Theo B khai toàn bộ số chất bột màu trắng trong các gói nilon là ma túy Heroine của B mang đi bán kiếm lời. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn B và niêm phong thu giữ vật chứng. Ngoài ra còn tạm giữ của B 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành mở niêm phong bì niêm phong A, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng có khối lượng 2,990 gam cho vào bì niêm phong ký hiệu B gửi giám định; mở niêm phong bì niêm phong B, cân xác định khối lượng chất bột màu trắng có khối lượng 7,492 gam cho bì niêm phong ký hiệu B1 gửi giám định.

Cùng ngày 27/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tiến hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn B tại số nhà 42, tổ 22, phường Phan P, thành phố N không phát hiện thu giữ gì. Khám xét tại số nhà 275 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường P, thành phố N phát hiện trên nóc tủ trong phòng ngủ tầng 2 nhà B có 01 cân điện tử màu đen và số tiền 10.000.000 đồng, tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

2

Tại bản Kết luận giám định số 112/KL-KTHS ngày 04/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là: 2,990 gam. Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là: 7,492 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Văn B khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 27/12/2021, B đi đến khu vực đầu cầu Gia Bẩy, thành phố N gặp 1 người nam giới (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua được số ma túy Heroine hết 5.300.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, B đi bộ từ nhà tại tổ 22, phường P, thành phố N vào đường Xuân Hòa, khi đi B có mang theo các gói ma túy Heroine được gói bằng túi nilon màu đen và màu xanh cất trong túi quần bên trái phía trước và phía sau đang mặc mục đích để bán lẻ cho khách kiếm lời. Khi đang đi bộ vào ngõ 74, đường Xuân Hòa thì bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang như nêu trên. Số ma túy trên B dự kiến bán thu về số tiền 5.500.000 đồng, nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ thu giữ vật chứng.

Vật chứng vụ án gồm: 04 bì niêm phong ký hiệu B, B1, L, L1; 01 bì niêm phong ký hiệu K1 bên trong chứa 01 điện thoại di động; 01 cân điện tử màu đen được bị cáo thừa nhận cất giữ để cân, chia ma túy; số tiền 10.000.000 đồng, tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, bị cáo xác định là tiền tiết kiệm từ việc bán hàng ăn sáng của vợ chồng bị cáo.

Hiện số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N chờ xử lý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Như H khai: Bà là vợ của bị cáo B, bà không biết việc bị cáo B mua bán ma túy cũng như không biết B cất giữ chiếc cân điện tử ở trong nhà. Về số tiền 10.000.000₫ thu giữ tại nhà của gia đình bà, đó là tiền của vợ chồng tiết kiệm bán hàng ăn sáng mà có, không liên quan đến ma túy. Nay, bà đề nghị được xin lại số tiền đã bị thu giữ của vợ chồng. Tại phiên tòa, bà tự nguyện gộp phần tiền thuộc quyền sở hữu của mình trong số 10.000.000₫ của vợ chồng để đảm bảo việc thi hành án cho bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 142/CT-VKSTPTN ngày 16/5/2022, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố N sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

3

Áp dụng điểm i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt: Nguyễn Văn B từ 08 đến 09 năm tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 10 đến 20 triệu đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: 04 bì niêm phong ký hiệu B, B1, L, L1; 01 cân điện tử màu đen;

+ Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen và số tiền 10.000.000đ.

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát.

Trong phần lời nói sau cùng, các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án:

Khoảng 12 giờ ngày 27/12/2021, Nguyễn Văn B đi đến khu vực cầu Gia Bẩy, thành phố N mua được 10,482 gam ma túy, loại Heroine của một người không rõ lai lịch, địa chỉ. Khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, B từ nhà tại tô 22, phường P, thành phố N mang theo số ma túy nêu trên với mục đích đi bán để kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì đến khoảng 15 giờ 30 phút, khi đang đi tại khu vực đường Xuân Hòa, thuộc tổ 26, phường Phan P, thành phố N, Nguyễn Văn B bị tổ Công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, của người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản

4

lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định như sau:

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đâu, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a,....

i, Heroine... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

q, Tái phạm nguy hiểm

[3]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo có 01 tiền án, không có tiền sự nhưng có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục có hành vi phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bố mẹ bị cáo đều được tặng thưởng huân chương, huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, buộc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo cất giữ ma túy nhằm mục đích thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

[4]. Vật chứng của vụ án:

- Đối với 04 bì niêm phong ký hiệu B, B1, L, L1, 01 cân điện tử là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cân tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 350247874983740, số IMEI 2: 353791664963748 thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra không có căn cứ xác định bị cáo dùng điện thoại vào việc phạm tội và tài sản đó cũng không phải do phạm tội mà có; về số tiền

5

10.000.000đ thu giữ khi khám nhà của bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xác định đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo tiết kiệm được từ việc bán hàng ăn sáng, không có căn cứ xác định số tiền này có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cũng như liên quan đến tội phạm. Do vậy, cần trả cho bị cáo quản lý, sử dụng chiếc điện thoại di động và trả cho vợ chồng bị cáo số tiền 10.000.000đ. Tuy nhiên, bị cáo còn phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền vào ngân sách Nhà nước nên cần tạm giữ chiếc điện thoại và tạm giữ ½ số tiền của bị cáo trong số 10.000.000₫ là tài sản chung để đảm bảo thi hành án cho bị cáo. Tại phiên toà, bà H là vợ bị cáo tự nguyện gộp phần tiền của mình có trong số tiền chung này để giúp bị cáo thực hiện nghĩa vụ nộp Ngân sách Nhà nước, vì vậy, số tiền 10.000.000đ được tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

[5] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Cần tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về điều luật áp dụng, hình phạt và các nội dung khác đối với các bị cáo là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

Trong vụ án này, bị cáo khai mua ma túy của 01 người đàn ông ở địa chỉ khu vực cầu Gia Bẩy, thành phố N. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N không có cơ sở điều tra làm rõ xử lý.

Đối với bà Nguyễn Thị Như H là vợ của bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bà H xác định không biết việc B mua bán ma túy và không biết việc B đã cất giấu chiếc cân điện tử ở trong nhà để cân đo ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N không xử lý đối với bà H là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự,

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. Về hình phạt:

- Áp dụng: Điểm i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn B 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2021. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

6

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 04 bì niêm phong còn nguyên vẹ ký hiệu B, B1, L, L1 và 01 cân điện tử màu đen.

Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, đã qua sử dụng và số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng).

(Số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 221 ngày 07/6/2022 giữa cơ quan Công an TP N và Chi cục Thi hành án dân sự TP N).

3. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TPTN;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TTG Công an tỉnh TN;
  • - Công an TPTN;
  • - Chi cục THADS TPTN;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
  • - UBND P.PĐP, TPTN;
  • - Bị cáo; NLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã Ký)

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2022/HS-ST ngày 10/06/2022 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 138/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tú - Áp dụng: Điểm i, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn B 08 (tám) năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger