Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN


Bản án số: 138/2021/DS-PT
Ngày : 26-4-2021
V/v: “Tranh chấp: Hợp đồng vay tài sản”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_________________________

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm.

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Phượng.

Bà Huỳnh Thị Hồng Vân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 và 26 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2021/TLDS-PT ngày 17 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp: Hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 55/2020/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2021/QĐ-PT ngày 07 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Kim T, sinh năm 1989.
    Địa chỉ: Xã X, huyện Y, tỉnh Z.
  2. Bị đơn: Ông Lâm Minh H, sinh năm 1983.
    Địa chỉ: Xã X, huyện Y, tỉnh Z.
  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Bà Đặng Hồng T, sinh năm 1992.
      Địa chỉ: Xã X, huyện Y, tỉnh Z.
      Chỗ ở hiện tại: Xã X, huyện Y, tỉnh Z.
    • 3.2. Bà Trần Thị C, sinh năm 1961.
      Địa chỉ: Xã X, huyện Y, tỉnh Z.
    • 3.3. Ông Phan Phước T, sinh năm 1987.
      Địa chỉ: Xã X, huyện Y, tỉnh Z.
  4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Lâm Minh H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đặng Hồng T.

(Tất cả đương sự có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Trần Thị Kim T trình bày trong đơn khởi kiện, lời trong quá trình tố tụng vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm như sau:

Bà T yêu cầu ông Lâm Minh H và bà Đặng Hồng T liên đới trả số tiền nợ vay gốc là 412.000.000 đồng và cùng tiền lãi suất theo mức lãi suất 11,5%/năm, thời gian tính lãi suất từ ngày 15/11/2019 âm lịch đến ngày xét xử.

Về căn cứ khởi kiện: Năm 2019, Bà T cho vợ chồng ông H và bà T vay tiền nhiều lần, tổng cộng là 412.000.000 đồng, cụ thể: Lần 01, cho vay 65.000.000 đồng; Lần 02 cho vay 50.000.000 đồng; Lần 03, cho vay 190.000.000 đồng (tất cả 03 lần có làm giấy tờ vay tiền). Riêng lần thứ 04, cho vay 107.000.000 đồng (số tiền này Bà T đưa cho bà T làm 02 lần, một lần đưa 70.000.000 đồng, một lần đưa 37.000.000 đồng. Bà T không nhớ ngày, vì cho vay theo ngày, trước đó bà T đã nhiều lần vay rồi trả, lần cuối đưa số tiền trên thì bà T không trả, khi giao tiền tin tưởng nên không làm giấy).

Do bà T bỏ đi khỏi địa phương không trả nợ cho Bà T. Ngày 17/02/2020, vợ chồng Bà T gặp ông H, nên yêu cầu đến nhà để xác nhận lại số nợ giữa các bên. Tại đó, giữa Bà T với ông H có trao đổi về các khoản nợ và ông H thống nhất viết giấy nợ số tiền nợ 305.000.000 đồng (gồm khoản vay 65.000.000 đồng, 50.000.000 đồng, 109.000.000 đồng) và 107.000.000 đồng. Việc ông H viết giấy nợ là tự nguyện thống nhất khoản nợ, có ông H là Công an ở xã Thạnh Trị chứng kiến chứ không có ai ép buộc, chữ ký của bà T trong giấy nợ là do ông H viết và ký thay.

Về tiền lãi và lãi suất cho vay: Thỏa thuận lãi là 50.000 đồng/tháng/triệu đồng. Đối với số tiền nợ vay 305.000.000 đồng, thì bà T đã trả lãi đến ngày 15/11/2019 âm lịch; Đối với số tiền nợ 107.000.000 đồng là vay theo ngày, đã trả lãi một phần, đến ngày 15/11/2019 âm lịch thì bà T bỏ đi nên không trả. Nay Bà T yêu cầu tính theo lãi suất 11,5%/năm, thời hạn tính từ ngày 15/11/2019 âm lịch đến ngày xét xử vụ án.

Bà T đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà Trần Thị C đứng tên nhưng do bà T thế chấp (trước đây bà T thế chấp để vay khoản vay ngày, đã trả xong khoản này nhưng còn số nợ 412.000.000 đồng chưa trả nên Bà T chưa trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Bà T yêu cầu vợ chồng ông H trả tiền nợ trên và Bà T đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bị đơn ông Lâm Minh H trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm như sau:

Ông H với bà Đặng Hồng T là vợ chồng. Trong năm 2019, (không nhớ cụ thể thời gian) vợ chồng ông H có vay tiền của Bà T 03 lần tiền, tổng cộng 305.000.000 đồng như Bà T trình bày. Nay vợ chồng ông H đồng ý trả số nợ vay này và đồng ý trả lãi theo lãi suất 11,5%/năm tính từ ngày 15/11/2019 âm lịch đến ngày xét xử.

Đối với số tiền 107.000.000 đồng thì ông H không đồng ý trả, vì không vay của Bà T. Theo “Giấy mượn tiền” ngày 17/02/2020 có nội dung mượn 305.000.000 đồng và 107.000.000 đồng thì do ông H viết giấy và ký tên và ký thay cho Bà T. Tuy nhiên, khi viết giấy là viết tại nhà Bà T, do ông H bị ép buộc, có ông Phạm Hoàng Hưng là Công an xã Thạnh Trị chứng kiến. Lý do, ông H ghi trong giấy nợ 107.000.000 đồng là do ông H nghĩ bà T có vay của Bà T.

Bị đơn bà Đặng Hồng T trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm như sau:

Bà T thống nhất với ý kiến của ông H về số tiền 305.000.000 đồng, đồng ý trả lại số tiền này, đồng ý trả lãi như Bà T yêu cầu, không yêu cầu xem xét lại đối với phần lãi suất đã trả trước đây cho Bà T. Yêu cầu Bà T trả lại bản chính GCNQSDĐ cho bà C.

Đối với số tiền 107.000.000 đồng, bà T không đồng ý trả, vì không vay của Bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Đơn kháng của vợ chồng ông Lâm Minh H, bà Đặng Hồng T thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Về nội dung vụ việc và kháng cáo của vợ chồng ông H, bà T.

[2.1]. Đối với số tiền ông H, bà T vay của Thoa là 305.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh ông H, bà T đồng ý tự nguyện trả cho Bà T nên Tòa án ghi nhận sự tự nguyện này.

[2.2]. Xét kháng cáo của vợ chồng ông H, bà T thấy rằng: Bà T khởi kiện ông H yêu cầu trả số tiền 107.000.000 đồng và lãi suất phát sinh từ số tiền trên. Căn cứ để Bà T khởi kiện là “Giấy mượn tiền” lập ngày 17/02/2020. Nội dung giấy mượn tiền trên là do ông H viết và ký tên ông H và ông H ký tên thay cho bà T. Xét trong quá trình giải quyết vụ án Bà T trình bày mâu thuẫn về thời gian và địa điểm giao tiền. Như vậy, Bà T không xác định được số tiền 107.000.000 đồng là cho ông H hay bà T vay, lời trình bày của Bà T tự mâu thuẫn với nhau và cũng không được bà T hay ông H thừa nhận có vay mượn số tiền này.

[2.4]. Từ những chứng cứ và phân tích trên, xét thấy Bà T không có chứng cứ để chứng minh đã cho vợ chồng ông H, bà T vay số tiền 107.000.000 đồng. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm xét xử và tuyên án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà T là không có căn cứ. Do đó, kháng cáo của vợ chồng ông H, bà T là có căn cứ, nên được chấp nhận toàn bộ.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của vợ chồng ông Lâm Minh H, bà Đặng Hồng T.

- Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số: 55/2020/DS-ST ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim T về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông Lâm Minh H và bà Đặng Hồng T.

- Buộc ông Lâm Minh H và bà Đặng Hồng T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị Kim T số tiền gốc là 305.000.000 đồng cùng tiền lãi suất là 37.023.500 đồng, tổng cộng cả gốc và lãi là 342.023.500 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim T đối với ông Lâm Minh H và bà Đặng Hồng T về việc yêu cầu trả số tiền gốc là 107.000.000 đồng và tiền lãi 12.988.500 đồng.

2. Buộc bà Trần Thị Kim T trả lại cho bà Trần Thị C bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00704QSDĐ, do Ủy ban nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An cấp ngày 05/8/2002 cho bà Trần Thị C đứng tên.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại TP. HCM;
- VKSND tỉnh Long An;
- TAND thị xã Kiến Tường;
- Chi cục THADS thị xã Kiến Tường;
- Đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thiện Tâm
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 138/2021/DS-PT ngày 26/04/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An về tranh chấp: hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 138/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp: Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Long An
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Kim Thoa "tranh chấp hợp đồng vay tài sản" Lâm Minh Hùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger