Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 137/2024/DS-PT

Ngày 31 - 5 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất, hợp

đồng đặt cọc và bồi thường thiệt hại

về tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên;

Các Thẩm phán:

Ông Lê Quang Tấn

Ông Trần Bá Kha

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng đặt cọc và bồi thường thiệt hại về tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 91/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 128/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Văn T sinh năm 1983; địa chỉ: tổ C ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của anh Vũ Văn T: Anh Bùi Thanh H sinh năm 1986; địa chỉ: khu phố T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn:

  1. Anh Danh H1 sinh năm 1972;
  2. Chị Thị P, sinh năm 1974;

Cùng địa chỉ: Số nhà B, tổ G, ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt)

Người đại diện theo ủy quyền của anh H1, chị P: anh Danh H2, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh H1, chị P: Luật sư Nguyễn Trần Thụy Q – Công tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Thị T1 sinh năm 1983 (vợ anh T); địa chỉ: tổ C ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  2. Chị Thị H3, sinh năm 1995 (con anh danh H1); Địa chỉ: Tổ G, ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  3. Anh Danh H2, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  4. Anh Danh L, sinh năm 1999; địa chỉ:Số nhà B, tổ G, ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang (có mặt).

- Người kháng cáo: Bị đơn anh Danh H1 và chị Thị P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/6/2022, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là anh Vũ Văn T trình bày:

Vào ngày 14/10/2021, anh Danh H1 và chị Thị P có chuyển nhượng cho anh một phần đất diện tích là 395m² trong đó có 40m² đất ở nông thôn và 355m² đất trồng cây lâu năm tại tổ G, ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm:

- Đất thổ cư tại thửa số 11, tờ bản đồ số 22-17, ngang 05m x dài 08m, diện tích 40m². Đất đã được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận số CT 521091, vào sổ cấp giấy chứng nhận: CS 134250 ngày 17/01/2020.

- Đất trồng cây lâu năm sau hậu thổ cư ngang 05m x dài 71m, diện tích 355m², đất đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT 521090, vào sổ cấp giấy chứng nhận số: CS 134249 ngày 17/01/2020.

Giá đất chuyển nhượng là 250.000.000 đồng, anh đã đưa trước số tiền là 200.00.000 đồng. Hai bên có làm giấy tay vào ngày 14/10/2021 và giao kèo đối với số tiền còn lại, khi nào làm giấy tờ xong anh sẽ giao đủ. Nếu đất có tranh chấp thì phía chị P chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đến ngày 07/12/2021 anh và vợ chồng chị P, anh H1 ra phòng công chứng thì phía anh H1, chị P không đồng ý chuyển nhượng nên công chứng không được. Anh H1, chị P đòi trả lại

cho anh số tiền 200.000.000 đồng nhưng không có tiền trả và nói để khi nào chuyển nhượng được đất mới trả tiền nhưng anh không đồng ý.

Theo đơn khởi kiện, anh T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Danh H1 và chị Thị P tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/10/2021, giao cho anh diện tích đất 395m² (thổ cư 40m² thuộc thửa đất số 11 tờ bản đồ số 22-2017, cây lâu năm 355m² thuộc thửa đất số 10 tờ bản đồ số 22-2017) tại tổ G ấp H, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang hoặc bồi thường gấp đôi số tiền anh đã đưa trước là 400.000.000 đồng.

Tại Biên bản hòa giải ngày 04/8/2023, anh T xác định giấy viết tay Hợp đồng mua bán đất nền nhà ở (không ghi ngày tháng năm) do phía bị đơn cung cấp do anh viết nhưng bản gốc phía bị đơn giữ, anh không giữ. Thời điểm hai bên thỏa thuận mua bán giá là 110.000.000 đồng/01 mét ngang lộ, anh yêu cầu mua 06m nhưng vợ chồng chị P chỉ đồng ý chuyển nhượng 05m nên hai bên ghi Giấy chuyển nhượng đất ngày 14/10/2021 bán 05m và ghi giá chuyển nhượng tổng cộng 250.000.000 đồng để đi công chứng đóng phí ít tiền. Anh rút yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu anh H1, chị P phải tiếp tục thực hiện hợp đồng. Anh chỉ yêu cầu anh H1, chị P phải trả lại cho anh số tiền anh đã đặt cọc là 200.000.000 đồng và bồi thường số tiền là 200.000.000 đồng. Vì trong trường hợp này, hai bên không thực hiện được hợp đồng do diện tích thỏa thuận mua bán không đủ điều kiện để làm giấy tờ sang tên được. Tại thời điểm hai bên thỏa thuận mua bán đất vào ngày 14/10/2021, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng chị P đang thế chấp để vay tiền ở Ngân hàng nên anh không lấy được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đi hỏi thủ tục làm giấy có được hay không. Khi anh đưa chị P số tiền 200.000.000 đồng thì chị P mới trả tiền cho Ngân hàng và lấy giấy ra, sau đó hai bên đi công chứng việc chuyển nhượng nhưng không thực hiện được.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của anh T là anh Bùi Thanh H yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 14/10/2021. Yêu cầu vợ chồng anh H1, chị P phải trả lại cho anh T số tiền chuyển nhượng đất đã đưa trước là 200.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho anh T với mức lãi suất 1%/tháng đối với số tiền 200.000.000 đồng tính từ ngày 14/10/2021 cho đến ngày xét xử sơ thẩm với số tiền là 44.000.000 đồng. Anh T rút một phần yêu cầu anh H1, chị P bồi thường thiệt hại số tiền là 156.000.000 đồng.

* Bị đơn là là anh Danh H1, chị Thị P trình bày:

Theo thỏa thuận hợp đồng mua bán đất nền nhà ở do anh Vũ Văn T viết có nội dung hai bên thỏa thuận mua bán diện tích ngang 06m x dài 60m, dài 60m tính từ mặt lộ. Giá thỏa thuận chuyển nhượng là 01 mét ngang lộ bằng 110.000.000 đồng. Anh T đã đặt cọc số tiền là 200.000.000 đồng, hợp đồng mua bán nền nhà giấy tay do anh T tự viết, bản chính anh T giữ, anh, chị chỉ giữ bản photo. Thời điểm 02 bên thỏa thuận chuyển nhượng đất có con gái anh, chị là chị Thị H3 chứng kiến. Đồng thời, anh T có đưa cho anh, chị ký thêm một giấy chuyển nhượng đất ngày 14/10/2021 cũng xác nhận anh, chị đã được nhận tiền cọc là 200.000.000 đồng.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính hiện nay do anh Danh H2 đang giữ, phần diện tích đất tranh chấp do vợ chồng anh, chị trực tiếp quản lý và ở chung với con trai là D LiNa. Anh, chị không cầm cố hay thế chấp diện tích đất này cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào.

Nay anh T khởi kiện yêu cầu anh, chị phải bồi thường số tiền là 400.000.000 đồng anh, chị không đồng ý. Anh, chị đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng, chuyển nhượng cho anh T diện tích đất theo Tờ trích đo ngang 05m x dài 74,87m, tổng diện tích 363,3m² với giá là 599.445.000 đồng và yêu cầu anh T trả thêm cho cho gia đình số tiền là 399.445.000 đồng. Nếu anh T không đồng ý mua đất thì số tiền 200.000.000 đồng anh T đã đặt cọc bị mất vì gia đình anh, chị không có lỗi trong vụ việc này.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của anh H1, chị P là anh H2 trình bày:

Anh thống nhất với ý kiến của cha, mẹ anh là ông H1, bà P về việc đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng, chuyển nhượng cho ông T diện tích đất theo Tờ trích đo ngang 5m x dài 74,87m, tổng diện tích 363,3m² với giá 599.445.000 đồng. Anh yêu cầu anh T trả thêm cho gia đình anh số tiền là 399.445.000 đồng. Nếu anh T không đồng ý chuyển nhượng đất thì số tiền 200.000.000 đồng anh T đã đặt cọc bị mất vì gia đình anh không có lỗi trong vụ việc này.

Trường hợp anh T cho rằng diện tích hai bên thỏa thuận mua bán không đủ diện tích để được cấp giấy thì gia đình anh cũng đồng ý bán cho anh T toàn bộ diện tích đất 10m ngang với giá 110.000.000 đồng/01 mét ngang.

Anh không đồng ý trả lại số tiền 200.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại số tiền 44.000.000 đồng theo yêu cầu khởi kiện của anh T.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Thị H3 và anh D LiNa trình bày:

Thống nhất với ý kiến của cha, mẹ là anh H1, chị P về việc đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cho anh T diện tích đất 363,3m² với giá 599.445.000 đồng, yêu cầu anh T trả thêm cho gia đình anh chị số tiền là 399.445.000 đồng. Nếu anh T không đồng ý chuyển nhượng đất thì số tiền cọc 200.000.000 đồng anh T đã đặt cọc bị mất vì gia đình anh, chị không có lỗi trong vụ việc này.

Qua trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự thống nhất diện tích đất tranh chấp theo Tờ trích đo địa chính số TĐ60 - 2023 ngày 20/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và sử dụng chứng thư thẩm định giá số 47/CT-KGGL ngày 19/6/2023 của Công ty TNHH MTV Đ làm cơ sở giải quyết vụ án. Đối với cây trồng, công trình kiến trúc trên phần đất tranh chấp các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các đương sự thống nhất diện tích đất thỏa thuận chuyển nhượng là ngang 05m x dài 74,87m, tổng cộng 363,3m² với giá 110.000.000 đồng/1m ngang, tổng giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 550.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn cũng có thiện chí chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất 10m ngang cho nguyên đơn để đủ điều kiện sang tên quyền sử dụng đất nhưng phía nguyên đơn không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng. Trong trường hợp này lỗi hoàn toàn do phía nguyên đơn, bị đơn không có lỗi, nguyên đơn từ chối giao kết hợp đồng nên căn cứ theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật Dân sự (BLDS) thì số tiền đặt cọc thuộc về bị đơn.

Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Vũ Văn T đối với bị đơn anh Danh H1, chị Thị P về việc yêu cầu anh H1, chị P tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/10/2021 và buộc anh H1, chị P liên đới bồi thiệt hại đối với hợp đồng vô hiệu số tiền là 156.000.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu đồng).
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh T đối với bị đơn là anh H1, chị P.

Tuyên bố Giấy chuyển nhượng đất ngày 14/10/2021 giữa anh Vũ Văn T và anh Danh H1, chị Thị P vô hiệu.

Buộc anh H1, chị P phải liên đới hoàn trả cho anh T số tiền chuyển nhượng đất là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và bồi thường thiệt hại số tiền là 24.722.500 đồng (Hai mươi bốn triệu bảy trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng).

Không chấp nhận yêu cầu của anh T buộc anh H1, chị P phải liên đới bồi thường thiệt hại số tiền là 19.277.500 đồng (Mười chín triệu hai trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, lãi suất chậm trả và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

* Ngày 02/10/2023 bị đơn anh Danh H1 và chị Thị P có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử bao gồm: Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 91/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hón Đất, tỉnh Kiên Giang. Yêu cầu cấp phúc thẩm xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Văn T.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự có ý kiến:

Nguyên đơn anh T yêu cầu giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 91/2023/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiện tòa phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và những người tham gia tố tụng trong vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2023/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, theo hướng không bồi thường thiệt hại do các bên đều có lỗi và hợp đồng vô hiệu ngay từ ban đầu và tính lại phần án phí theo quy định.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, nghe lời phát biểu của đại diện viện kiểm sát, đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bị đơn anh Danh H1 và chị Thị P về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét về việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Các đương sự thống nhất diện tích đất tranh chấp theo Tờ trích đo địa chính số TĐ60 - 2023 ngày 20/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H và sử dụng chứng thư thẩm định giá số 47/CT-KGGL ngày 19/6/2023 của Công ty TNHH MTV Đ làm cơ sở giải quyết vụ án. Đối với cây trồng, công trình kiến trúc trên phần đất tranh chấp các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nguyên đơn anh T xác định vào ngày 14/10/2021, vợ chồng anh Danh H1, chị Thị P có thỏa thuận chuyển nhượng cho anh diện tích đất có chiều ngang 05m và chiều dài 79m, với giá 110.000.000 đồng/01 mét ngang lộ. Việc chuyển nhượng có làm giấy chuyển nhượng đất có chữ ký của hai bên. Anh đã trả cho anh H1, chị P số tiền là 200.000.000 đồng. Anh T xác định trong trường hợp này, hai bên không thực hiện được hợp đồng do diện tích đất thỏa thuận mua bán không đủ diện tích tối thiểu để tách thửa làm giấy tờ sang tên được. Tại thời điểm hai bên thỏa thuận chuyển nhượng đất vào ngày 14/10/2021, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vợ chồng chị P đang thế chấp để vay tiền tại Ngân hàng nên anh không lấy được giấy đất để đi hỏi thủ tục làm giấy có được hay không.

Khi anh đưa chị P số tiền 200.000.000 đồng thì chị P mới chuộc giấy ra, sau đó hai bên đi công chứng việc chuyển nhượng nhưng không được. Do đó, anh không yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mà yêu cầu chị P hủy hợp đồng chuyển nhượng trả lại tiền và bồi thường thiệt hại cho anh.

Phía bị đơn đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng, chuyển nhượng cho anh T diện tích đất theo đo đạc thực tế, ngang 05m x dài 74,87m diện tích 363,3m² với giá 599.445.000 đồng, yêu cầu anh T trả thêm cho cho bị đơn số tiền là 399.445.000 đồng. Nếu anh T không đồng ý chuyển nhượng đất thì số tiền cọc 200.000.000 đồng anh T đã đặt cọc thuộc về bị đơn, bị đơn không đồng ý trả lại số tiền này và bồi thường thiệt hại.

[2.2]Xét Giấy chuyển nhượng đất ngày 14/10/2021:

Về hình thức: Giấy chuyển nhượng đất ngày 14/10/2021 giữa anh Vũ Văn T và anh Danh H1, chị Thị P chỉ có chữ ký của các bên mà không được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nên không đảm bảo về hình thức của hợp đồng theo quy định khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013, Điều 500 của Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015.

[3] Xét kháng cáo của anh Danh H1 và chị Thị P:

Anh H2 là đại diện theo ủy quyền của vợ chồng anh H1 chị P cho rằng do anh T không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng nên phải mất cọc 200.000.000₫.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị P được cấp 02 giấy chứng nhận QSD đất: Giấy chứng nhận thửa đất số 11 diện tích 80m² mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn, Giấy chứng nhận thửa đất số 10 diện tích 684,7m² mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm, giữa anh T và vợ chồng anh H1 chị P lập hợp đồng chuyển nhượng đất thì có nêu 01 nền nhà chiều ngang 06m dài 60, giấy chuyển nhượng đất không nói rõ là chuyển nhượng đất ở hay đất trồng cây lâu năm diện tích bao nhiêu, tuy nhiên anh T và vợ chồng anh H1 chị P thống nhất diện tích chuyển nhượng như xem xét thẩm định tại chỗ thực tế có chiều ngang là 05m, tổng diện tích là 363,3m².

Diện tích 363,3m² các bên thỏa thuận chuyển nhượng không đủ điều kiện để tách thửa theo Quyết định số 11/2021/QĐ-UBND ngày 16/8/2021 của UBND tỉnh K. Bởi vì, theo quy định tại khoản 1 Điều 4 “Diện tích tối thiểu của thửa đất sau khi tách thửa đối với đất ở tại nông thôn là 45m²”, điểm b khoản 2 Điều 6 “Đất trồng cây lâu năm, đất nông nghiệp khác, khu vực nông thôn diện tích 1.000m²”. Do đó, căn cứ quy định khoản 1 Điều 408 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015 “Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu” vì vậy, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh T và vợ chồng anh H1 chị P ngày 14/10/2021 là vô hiệu ngay từ ban đầu. Mặt khác giá chuyển nhượng là 01m ngang số tiền là 110.000.000đ, vậy 05m chiều ngang với số tiền là 550.000.000đ, nhưng khi làm giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giá chỉ có 250.000.000đ để đóng thuế chuyển nhượng ít tiền là không đúng quy định của pháp luật.

Do đó, hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng QSD đất vô hiệu do đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được theo quy định tại khoản 1 Điều 408 BLDS 2015, các quy định của pháp luật về diện tích tối thiểu để tách thửa là quy định công khai, người sử dụng đất có nghĩa vụ phải biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, nên cả anh T và vợ chồng anh H1 chị P đều có lỗi dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 131 BLDS quy định hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận”, vì vậy, vợ chồng anh H1 chị P phải trả lại cho anh T số tiền 200.000.000₫ là phù hợp, không phải bồi thường thiệt hại như bản án sơ thẩm đã tuyên. Bản án sơ thẩm xét lỗi dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu và buộc vợ chồng anh H1 chị P phải chịu thiệt hại tương ứng mức độ lỗi 50% với số tiền là 24.722.500đ và buộc anh H1, chị P bồi thường cho anh T số tiền trên là không phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, kháng cáo của bị đơn không có cơ sở để chấp nhận.

Đối với diện tích đất phía bị đơn chưa giao đất cho nguyên đơn sử dụng nên cấp sơ thẩm không buộc nguyên đơn giao trả đất cho bị đơn là có căn cứ.

[4] Các nội dung khác trong phần Quyết định của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, trong thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang; Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn anh H1, chị P. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2023/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

[5] Về chi phí tố tụng:

Tổng chi phí số tiền là 5.831.104 đồng (năm triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn một trăm lẻ bốn đồng) bao gồm: Phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai số tiền là 250.000 đồng (Hai trăm năm chục nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000124 ngày 14/02/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Kiên Giang; Chi phí đo đạc (Trích đo địa chình) số tiền là 1.732.104 đồng (Một triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn một trăm lẻ bốn đồng) theo hóa đơn giá trị gia tăng số 00000867 ngày 09/5/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Kiên Giang; Chi phí thẩm định giá số tiền là 3.850.000 đồng (Ba triệu tám trăm năm chục nghìn đồng) theo hoán đơn bán hàng ngày 21/6/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đ.

Anh Vũ Văn T phải chịu chi phí tố tụng là 2.916.052 đồng (Hai triệu chín trăm mười sáu nghìn không trăm năm mươi hai đồng) và anh Danh H1, chị Thị P phải chịu chi phí tố tụng là 2.916.052 đồng (Hai triệu chín trăm mười sáu nghìn không trăm năm mươi hai đồng).

Do anh T đã nộp toàn bộ chi phí tố tụng nên anh H1, chị P phải hoàn trả cho anh T số tiền là 2.916.052 đồng (Hai triệu chín trăm mười sáu nghìn không trăm năm mươi hai đồng).

[6] Về án phí:

[6.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của anh T được chấp nhận một phần nên anh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với phần yêu cầu không được chấp nhận là 44.000.000 đồng x 5% = 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.300.000 đồng (mười triệu ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007997 ngày 06/6/2022 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Anh T được nhận lại số tiền là 8.100.000 đồng (Tám triệu một trăm nghìn đồng) theo biên lai thu nói trên.

Anh H1, chị P là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, án phí nên anh, chị không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[6.2] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bị đơn anh Danh H1, chị Thị P kháng cáo được chấp nhận một phần nên anh, chị không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho anh Danh H1 và chị Thị P1 số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) do anh Danh H2 nộp theo biên lai thu số 0000225 ngày 02/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 91/2023/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 122, Điều 123, khoản 2 Điều 129, Điều 328, Điều 408, khoản 2 Điều 468, Điều 500 của Bộ luật dân sự năm 2015; kkhoản 4 Điều 12, khoản 3 Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Vũ Văn T đối với bị đơn anh Danh H1, chị Thị P về việc yêu cầu anh Danh H1, chị Thị P tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/10/2021 và buộc anh Danh H1, chị Thị P phải bồi thiệt hại đối với hợp đồng vô hiệu số tiền là 156.000.000 đồng (Một trăm năm mươi sáu triệu đồng).
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Văn T đối với bị đơn là anh Danh H1, chị Thị P.

Tuyên bố Giấy chuyển nhượng đất ngày 14/10/2021 giữa anh Vũ Văn T và anh Danh H1, chị Thị P vô hiệu.

Buộc anh Danh H1, chị Thị P phải hoàn trả cho anh Vũ Văn T số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

Không chấp nhận yêu cầu của anh T buộc anh Danh H1, chị Thị P phải bồi thường thiệt hại số tiền là 44.000.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về chi phí tố tụng:

Tổng chi phí số tiền là 5.831.104 đồng (năm triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn một trăm lẻ bốn đồng) bao gồm: Phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai số tiền là 250.000 đồng (Hai trăm năm chục nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000124 ngày 14/02/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Kiên Giang; Chi phí đo đạc (Trích đo địa chình) số tiền là 1.732.104 đồng (Một triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn một trăm lẻ bốn đồng) theo hóa đơn giá trị gia tăng số 00000867 ngày 09/5/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H, tỉnh Kiên Giang; Chi phí thẩm định giá số tiền là 3.850.000 đồng (Ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) theo hoá đơn bán hàng ngày 21/6/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đất vàng Kiên Giang.

Anh Vũ Văn T phải chịu chi phí tố tụng là 2.916.052 đồng (Hai triệu chín trăm mười sáu nghìn không trăm năm mươi hai đồng) và anh Danh H1, chị Thị P phải liên đới chịu chi phí tố tụng là 2.916.052 đồng (Hai triệu chín trăm mười sáu nghìn không trăm năm mươi hai đồng).

Do anh Vũ Văn T đã nộp toàn bộ chi phí tố tụng nói trên, nên anh Danh H1, chị Thị P phải có trách nhiệm hoàn trả cho anh Vũ Văn T số tiền là 2.916.052 đồng (Hai triệu chín trăm mười sáu nghìn không trăm năm mươi hai đồng).

4. Về án phí:

4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của anh T được chấp nhận một phần nên anh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với phần yêu cầu không được chấp nhận là 44.000.000 đồng x 5% = 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.300.000 đồng (Mười triệu ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007997 ngày 06/6/2022 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Anh T được nhận lại số tiền là 8.100.000 đồng (Tám triệu một trăm nghìn đồng) theo biên lai thu nói trên.

Anh H1, chị P là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ và có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, án phí nên anh, chị không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bị đơn anh Danh H1, chị Thị P không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho anh Danh H1 và chị Thị P1 số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) do anh Danh H2 nộp theo biên lai thu số 0000225 ngày 02/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Hòn Đất;
  • - CC THA dân sự huyện Hòn Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/DS-PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng đặt cọc và bồi thường thiệt hại về tài sản

  • Số bản án: 137/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng đặt cọc và bồi thường thiệt hại về tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông T tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng đặt cọc, BTTH với ông H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger