TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30/8/2024 V/v ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Thanh;
- Bà Trần Thị Quế Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thu Hồng Em - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 214/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 226/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Hồng N, sinh năm 1993; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Nơi cư trú: tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang. SĐT: 0919.545.xxx
- Bị đơn: Anh Cao Văn Hùm E, sinh năm 1991; (vắng mặt)
- Nơi cư trú: tổ B, ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang. SĐT: 0768.888.xxx
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Đỗ Thị Hồng N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: qua thời gian tìm hiểu, chị và anh Cao Văn H Em tiến đến hôn nhân, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh An Giang. Trong quá trình chung sống anh Hùm E không làm tròn trách nhiệm chăm lo cuộc sống gia đình, đẩy gia đình lâm vào tình trạng khó khăn, bản thân chị còn phải lo cho con nhỏ không thể gánh vác một mình. Chị và anh H Em ly thân từ tháng 7/2023 đến nay, chị về gia đình cha mẹ ruột ở đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Hùm E.
- Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Cao Đỗ Minh A, sinh ngày 29/9/2015 và Cao Đỗ Gia H1, sinh ngày 24/01/2024. Hiện tại, 02 con chung đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi 02 con, không yêu cầu anh Hùm E cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn anh Cao Văn H Em để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như tham gia phiên toà nhưng anh Hùm E đều vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Toà án đã tiến hành các thủ tục xác minh, lấy lời khai bị đơn tại nơi cư trú nhưng anh Hùm E không có mặt ở nhà khi cán bộ Toà án đến, nên Toà án không lấy được lời khai của bị đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
+ Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đỗ Thị Hồng N. Về con chung: đề nghị giao hai cháu Cao Đỗ Minh A và Cao Đỗ Gia H1 cho chị N tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng, anh Hùm E không phải cấp dưỡng nuôi các con chung do chị N không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: chị N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: bị đơn anh Cao Văn H Em hiện có nơi cư trú tại: tổ B, ấp C, xã C, huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án về tranh chấp ly hôn, nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Ngày 20/8/2024, nguyên đơn chị Đỗ Thị Hồng N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn anh Cao Văn Hùm E đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Hồng N thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Theo nguyên đơn chị N trình bày thì chị và bị đơn anh Cao Văn H Em do tìm hiểu tiến đến hôn nhân, chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Theo chị N trình bày quá trình chung sống anh Hùm E không làm tròn trách nhiệm chăm lo cuộc sống gia đình, đẩy gia đình lâm vào tình trạng khó khăn, bản thân chị còn phải lo cho con nhỏ không thể một mình gánh vác gia đình.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần mở phiên hoà giải nhằm tạo điều kiện để chị N và anh Hùm E hàn gắn tình cảm, nhưng chị N vẫn kiên quyết ly hôn, anh Hùm E được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này chứng tỏ anh Hùm E không có nguyện vọng đoàn tụ với chị N. Chị N và anh Hùm E đã ly thân từ giữa tháng 7/2023 đến nay, nhưng anh và chị vẫn không hàn gắn tình cảm lại được.
Tất cả điều này cho thấy hôn nhân của chị N và anh Hùm E đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N.
[2.2] Về quan hệ con chung: Chị N và anh Hùm E có hai con chung tên Cao Đỗ Minh A, sinh ngày 29/9/2015 và Cao Đỗ Gia H1, sinh ngày 24/01/2024. Hiện hai con chung đang sống với chị N. Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 19/7/2024 cháu Cao Đỗ Minh A có nguyện vọng sống với mẹ nếu cha mẹ ly hôn. Xét thấy, từ khi ly thân đến nay cháu Minh A và cháu Gia H1 đã sống ổn định với chị N, anh Hùm E không có ý kiến được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của hai cháu được ổn định, không bị xáo trộn sau khi cha mẹ ly hôn nên căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N, giao hai cháu Minh A và cháu Gia H1 cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, chị N phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh H Em được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai cản trở khi anh Hùm E thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng: Chị N không yêu cầu anh Hùm E cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: theo chị N trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
[3] Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004746 ngày 01/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Hồng N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Hồng N được ly hôn với anh Cao Văn Hùm E.
- Về quan hệ con chung: Chị N và anh Hùm E có 02 con chung tên: Cao Đỗ Minh A, sinh ngày 29/9/2015 và Cao Đỗ Gia H1, sinh ngày 24/01/2024.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004746 ngày 01/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị Hồng N và anh Cao Văn H Em được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Chị Đỗ Thị Hồng N được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu Cao Đỗ Minh A và Cao Đỗ Gia H1.
Về cấp dưỡng: anh Hùm E không phải cấp dưỡng nuôi các con chung do chị N không yêu cầu.
Chị N cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Hùm E thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu Cao Đỗ Minh A và Cao Đỗ Gia H1.
Nếu người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người còn lại thì người còn lại có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng dựa trên các quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Kim Quyên |
Bản án số 137/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 137/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nh yêu cầu ly hôn với anh Hùm E.
