Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————————

Bản án số: 137/2024/DS-ST

Ngày: 29-5-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Như Nhiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đỗ Thị A.
  2. Ông Đinh Hoàng Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 27/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 68/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 57/2024/QĐST-DS ngày 07/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.

Địa chỉ trụ sở chính: Số B, đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1991 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Lầu E, số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Giấy ủy quyền số 3559/2023/UQ-TGĐ ngày 16-10-2023).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Lam Minh T, sinh năm 1984 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số G đường Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG KHỞI KIỆN:

1. Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S cùng bản trình bày của ông Nguyễn Ngọc M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Ngày 22-5-2020, Ngân hàng Thương mại cổ phần S cấp tín dụng cho bà Nguyễn Lam Minh T theo Hợp đồng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ theo thu nhập và đề nghị của bà T, ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho bà T có hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 59.587.700 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt đến nay, bà T đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 45.213.000 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên ngày 23/8/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24.4 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 29/5/2024, bà T còn nợ ngân hàng số nợ tổng cộng 53.465.674 đồng, trong đó:

  • - Nợ gốc: 23.102.311 đồng.
  • - Lãi quá hạn: 30.363.363 đồng.

Nay Ngân hàng yêu cầu bà T trả ngay số nợ trên một lần cùng tiền lãi phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng được tính tiếp theo từ ngày 30/5/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Ngoài ra ngân hàng không còn ý kiến, yêu cầu nào khác.

2. Bị đơn bà Nguyễn Lam Minh T đã vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, được ghi nhận tại Biên bản ghi nhận đương sự vắng mặt ngày 13/3/2024 và Biên bản không tiến hành hoà giải được ngày 11/4/2024.

3. Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh:

  • - Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, ra Thông báo thụ lý vụ án đúng pháp luật, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Thẩm phán ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng những quy định về thủ tục tố tụng.
  • - Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”. Xét bị đơn có nơi cư trú tại Quận A, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về người đại diện tham gia tố tụng:

Văn bản ủy quyền số 3559/2023/UQ-TGĐ ngày 16-10-2023 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc M đại diện tham gia tố tụng là hợp lệ, được Tòa án chấp nhận.

[3] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Phía bị đơn đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về việc áp dụng pháp luật:

Hợp đồng cấp tín dụng được hai bên ký ngày 22-5-2020, nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

[5] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S:

Về số tiền nợ gốc:

Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 19 ngày 28/5/2020, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S và lời khai trình bày của nguyên đơn có đủ cơ sở xác định giữa Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Lam Minh T có ký kết với nhau hợp đồng cấp tín dụng, hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Về phía bị đơn bà T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng. Không có bản khai cũng không có văn bản trình bày ý kiến, nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét ý kiến, yêu cầu, nguyện vọng (nếu có). Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn Ngân hàng TMCP S cung cấp và do Tòa án thu thập được chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với tiền nợ gốc.

Về số tiền lãi:

Tại khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng”. Xét thấy bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên ngày 23/8/2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã chuyển toàn bộ dư nợ của bà T sang nợ quá hạn là phù hợp thỏa thuận giữa hai bên được quy định tại Điều 24 của giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Số tiền nợ lãi quá hạn theo bảng sao kê của nguyên đơn nộp cho Tòa án tính đến ngày 29/5/2024 là 30.363.363 đồng. Tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Xét thấy lãi suất nợ quá hạn do hai bên thỏa thuận bằng 150% của lãi suất trong hạn là không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nghĩa vụ trả nợ của bên vay:

Căn cứ Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc bà Nguyễn Lam Minh T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ gốc là 23.102.311 đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 29/5/2024 là 30.363.363 đồng.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì kể từ ngày 30/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 91; Điều 92; khoản 1 Điều 147; Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

  • - Căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015,

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 91 và khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng,

  • - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 6 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Buộc bà Nguyễn Lam Minh T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền nợ là 53.465.674 (năm mươi ba triệu, bốn trăm sáu mươi lăm ngàn, sáu trăm bảy mươi bốn) đồng, trong đó bao gồm nợ gốc là 23.102.311 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 29/5/2024 là 30.363.363 đồng.

    Kể từ ngày 30/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng (là giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 28/5/2020 của ngân hàng).

    Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm: 2.673.284 (hai triệu, sáu trăm bảy mươi ba ngàn, hai trăm tám mươi bốn) đồng, bà Nguyễn Lam Minh T chịu.

    Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.163.202 (một triệu, một trăm sáu mươi ba ngàn, hai trăm lẻ hai) đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2023/0002075 ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần S, bà Nguyễn Lam Minh T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q.10;
  • - Chi cục THADS Q.10;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Như Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/DS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 137/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger