Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137 /2023/HSST

Ngày: 28/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Đăng Khoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trọng

Bà Nguyễn Thị Luận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Gia Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 129/2023/HSST ngày 25/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2023/QĐXXST-HS ngày 06/11/2023 đối với bị cáo::

Nguyễn Văn V, sinh năm 1981; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn A, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1962; vợ: Trần Thị L, sinh năm 1977; có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020; Tiền sự: Không.

Tiền án:

Ngày 27/02/2019, Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/11/2019; Tháng 3/2019, đã bồi thường dân sự cho bị hại số tiền 2.800.000 đồng; Ngày 30/9/2020 đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngày 23/4/2021, TAND huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Ngày 21/9/2022 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 02/7/2021, đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Nhân thân:

Ngày 22/6/2006, TAND huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay là TP .) xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã bồi thường dân sự cho bị hại số tiền 750.000 đồng.

Ngày 16/8/2007, TAND quận Thanh Xuân, TP . xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt, buộc V phải chấp hành hình phạt chung là 36 tháng tù. Ngày 12/9/2009, chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 15/11/2007, đã bồi thường dân sự cho bị hại số tiền 1.200.000 đồng.

Ngày 27/10/2010, TAND quận Thanh Xuân, TP . xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 23/8/2011, đã chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 28/10/2010, đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

D chỉ bản số 430 do Công an huyện C lập ngày 21/7/2023; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố H (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Chị Đỗ Thị L1, sinh năm 1983( vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn Y, xã Đ, huyện C, TP ..

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 13/7/2023, V điều khiển chiếc xe đạp mini màu đỏ - đen đi từ nhà ở của mình qua khu vực cánh đồng lúa thuộc địa phận thôn Y, xã Đ, huyện C, TP Hà Nội để đến khu vực trại chăn nuôi gà thuộc địa phận xã T, huyện C, mục đích đi hỏi và tìm kiếm việc làm. Do không nhớ đường nên V đi lạc vào khu vực nhà dân ở thôn Y, xã Đ, huyện C. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, V đi đến nhà chị Đỗ Thị L1 (SN 1983, trú tại: thôn Y, xã Đ, huyện C), nhìn thấy cổng mở, cửa không khóa nên V dựng xe đạp ở ngoài cổng, đi bộ vào trong sân nhà chị L1 để hỏi đường. Lúc này, nhà chị L1 không có ai ở nhà, V quan sát xung quanh thì phát hiện có 01 chiếc điện thoại di động di động, nhãn hiệu Vivo Y21S, màu tím – bạc, số seri: 1553330302000WD, máy cũ đã qua sử dụng của chị L1 đang cắm sạc pin trên cửa sổ, nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. V đến thò tay trái cầm rút chiếc điện thoại, tay phải rút dây sạc ra, đút điện thoại vào túi quần bên trái đang mặc rồi nhanh chóng đi ra cổng để tẩu thoát, nhưng bị chị L1 phát hiện, tri hô trộm cắp. V bỏ chạy chạy ra cổng lấy chiếc xe đạp đạp xe đi. Đi được khoảng 200 mét thì thấy có người hô hoán, đuổi theo phía sau. Biết có người đuổi bắt, V dùng tay phải giữ ghi đông xe và đạp xe bỏ chạy, tay trái cầm rút chiếc điện thoại vừa trộm cắp được vứt xuống đường, nhằm mục đích để người dân thấy được điện thoại thì không đuổi theo mình nữa. Do không thông thạo đường nên V điều khiển xe vào ngõ cụt, thấy người dân truy đuổi đến gần V hoảng sợ, bỏ lại chiếc xe đạp, trèo qua bức tường bao, chạy vào vườn chuối của nhà dân lẩn trốn. Nhưng đã bị quần chúng nhân dân phối hợp

với Công an xã Đ bắt giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Tang vật thu giữ:

  • 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo Y21S, màu tím – bạc, số seri: 1553330302000WD, máy cũ đã qua sử dụng;
  • 01 chiếc xe đạp mini, màu sơn đỏ đen, xe cũ đã qua sử dụng.

Tại kết luận định giá số 101 ngày 19/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện C, kết luận: “01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo Y21s màu tím – bạc, số seri: 1553330302000WD, 128GB. Tại thời điểm tháng 7/2023 có giá trị là: 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)”.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo Y21S, màu tím – bạc, số seri: 1553330302000WD, máy cũ đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị L1. Chị L1 có đơn xin lại điện thoại để quản lý, sử dụng. Ngày 14/8/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại trên cho chị L1 quản lý, sử dụng. Chị L1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu V bồi thường gì khác.

Cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 24/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (BLHS 2015).

Tại phiên toà:

- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung tại Cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s Khoản 1 Điều 51,Điều 38 xử phạt Nguyễn Văn V từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2023; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Chị L1 đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì nên không xem xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định

của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị hại: Xét thấy bị hại đã được triệu tập hợp lệ, chị L1 vắng mặt không có lý do. Trong quá trình điều tra bị hại đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.

[2] Về nội dung:

[2.1] Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/7/2023, tại nhà ở nhà chị Đỗ Thị L1 thuộc thôn Y, xã Đ, huyện C, TP Hà Nội, Nguyễn Văn V đã có hành vi lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của gia đình chị L1, lén lút trộm cắp 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo Y21S, màu tím – bạc, số seri: 1553330302000WD, máy cũ đã qua sử dụng, trị giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) của chị L1, thì bị phát hiện đuổi bắt. Công an xã Đ tiến hành lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

Mặc dù giá trị tài sản V trộm cắp dưới 2.000.000 đồng, nhưng nhân thân V có 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản và Cướp giật tài sản, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của Nguyễn Văn V phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định.

Như vậy, hành vi của Nguyễn Văn V đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b Khoản 1 Điều 173 BLHS 2015.

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ truy tố Nguyễn Văn V theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Vì vậy cần xử lý nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ :

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gây thiệt hại không lớn là các tình tiết giảm nhẹ theo Điểm h, s Khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 được Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần trách nhiệm cho bị cáo.

[2.3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[2.4] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Đối với chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Vivo Y21S, màu tím – bạc, số seri: 1553330302000WD, máy cũ đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị L1. Chị L1 có đơn xin lại điện thoại để quản lý, sử dụng. Ngày 14/8/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thoại trên cho chị L1 quản lý, sử dụng. Chị L1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu V bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với chiếc xe đạp mini màu sơn đỏ - đen, xe cũ đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của cháu Trần Hữu L2 (SN: 2012, con riêng của chị Trần Thị L – vợ V). Ngày 20/7/2023, chị L có đơn xin lại xe để cháu L2 sử dụng làm phương tiện đi lại, học tập. Ngày 14/8/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe đạp trên cho cháu L2, chị L quản lý, sử dụng là phù hợp.

[2.5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s Khoản Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, phạt:

    Nguyễn Văn V 18 ( Mười tám ) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 13/7/2023.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - Chi cục THADS huyện Chương Mỹ;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - THAHS;
  • - Lưu HS;VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Đăng Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2023/HSST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 137/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger