Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/HSST

Ngày: 28/6/2024.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông: Nguyễn Văn Đô.
  2. Bà: Lê Thị Kiều Thu.

Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thanh Trúc, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hòa T, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/HSST ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2024/QĐXXST – HS ngày 10/6/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H (Tên gọi khác: Đen), Giới tính: N, Sinh năm: 1996 tại tỉnh Bình Thuận; HKTT: khu phố D, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở: khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1974; Con bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1981; Vợ: Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 1999 (chưa đăng ký kết hôn); Con: có 01 người, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: + Ngày 29/10/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 218/2014/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2017, đã được xóa án tích, + Ngày 02/11/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo H kháng cáo, hiện đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm; Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 17/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P “Có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 16/02/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Văn H gọi điện thoại cho T1 (không rõ nhân thân, trú tại thị xã L, tỉnh Bình Thuận) nhờ mua giùm 2.300.000 đồng ma túy đá, T1 đồng ý và giới thiệu 01 người tên S (không rõ nhân thân, trú tại thị xã L, tỉnh Bình Thuận) bán ma túy đá cho H. Đến tối cùng ngày, T1 chở S ra thành phố P, đến nhà của H ở khu phố C, phường P, thành phố P đưa cho H 01 gói nylon bên trong có 04 gói ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, H lấy ra một ít để sử dụng rồi cất 02 gói ma túy đá vào túi quần, còn 02 gói ma túy đá H cất trong nón bảo hiểm treo trong nhà của H (phòng thứ hai từ ngoài vào).

Đến khoảng 18 giờ 20 phút ngày 17/02/2024, tại hẻm S đường L, khu phố C, phường P, thành phố P, H mang theo 02 gói ma túy đá trong túi quần đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường P tiến hành kiểm tra, thu giữ trong túi quần phía trước, bên trái H đang mặc có 02 gói nylon không màu, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Lực lượng Công an đã thu giữ tang vật có liên quan và đưa H về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan Công an, H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên, đồng thời khai nhận còn cất giấu ma túy tại nhà của H.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của H ở hẻm S đường L, khu phố C, phường P, H tự nguyện lấy từ bên trong nón bảo hiểm được treo trên bức tường trong phòng thứ hai từ ngoài vào 02 gói nylon không màu, bên trong chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho cơ quan Công an. H khai nhận đó là ma túy đá H mua về để sử dụng dần.

Vật chứng của vụ án:

  • - 02 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước mỗi gói lần lượt khoảng (8,5 x 5) cm và (7 x 4) cm, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1, M2 khi giám định), thu giữ trong túi quần phía trước, bên trái H đang mặc.
  • - 02 gói nylon không màu, có nhíp kéo màu đỏ một đầu, kích thước mỗi gói lần lượt khoảng (10 x 16,5) cm và (8 x 13,5) cm, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M3, M4 khi giám định), thu giữ tại nhà của H.
  • - Tiền Việt Nam: 700.000 đồng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu N1, bên trong chứa sim số 0343884771.
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế.
  • - 01 cân tiểu ly.

Tại Bản kết luận giám định số 221/KL-KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

  • - Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 9,9289 gam, là Methamphetamine.
  • - Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,4017 gam, là Methamphetamine.
  • - Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 33,6402 gam, là Methamphetamine.
  • - Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 12,6919 gam, là Methamphetamine.
  • Tổng khối lượng Methamphetamine Hiếu tàng trữ là 56,6627 gam.

Tại bản cáo trạng số 79/CT – VKSPT - HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 10 đến 11 năm tù và đề nghị xử lý vật chứng vụ án.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết.

Bị cáo thấy được hành vi bị cáo là sai trái ăn năn hối cải mong Hội đồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với kết quả giám định kỹ thuật Hình sự của Công an tỉnh B về vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 18 giờ 20 phút ngày 17/02/2024, tại hẻm S đường L thuộc khu phố C, phường P, thành phố P, bị cáo Nguyễn Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 10,3306 gam Methamphetamine trong người nhằm mục đích sử dụng thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an phường P phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra, bị cáo H tự khai có tàng trữ trái phép 46,3321 gam Methamphetamine tại nhà nhằm mục đích sử dụng. Tổng khối lượng ma túy bị cáo H tàng trữ để sử dụng là 56,6627 gam Methamphetamine.

Xét thấy, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo đã thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp đã tàng trữ 56,6627 gam Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm b khoản 03 Điều 249 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho thấy: bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, bị cáo cũng nhận thức được Methamphetamine là loại ma túy gây nghiện, nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ... chất ma túy trái phép. Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội thế nhưng bị cáo xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hành vi của bị cáo nguy hiểm cao cho xã hội nên cần xử lý bằng một mức án nghiêm khắc không chỉ nhằm trừng trị mà còn giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các qui tắc của cuộc sống, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới.

[3] Về tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, hối cải về hành vi phạm tội, đã tự thú và tự nguyện giao nộp số ma túy cất giấu tại nhà cho cơ quan Công an nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Ngày 29/10/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 04 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại bản án số 218/2014/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2017, đã được xóa án tích; Ngày 02/11/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình sự cho bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, xem xét nhân thân bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.

[5]Về xử lý vật chứng:

02 phong bì niêm phong đánh số 221/1, 221/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá tự chế là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; đối với 01 cân tiểu ly, 01 điện thoại di động hiệu Nokia bên trong chứa sim số 0343884771 là phương tiện phạm tội nên tịch thu vào ngân sách nhà nước.

Đối với đối tượng T1 và S đã bán ma túy cho H, do không xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là đúng theo quy định pháp luật.

[6]Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 02 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

*Căn cứ: Điểm b khoản 03 Điều 249; điểm r, s khoản 01 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

*Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

*Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 11 (Mười một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ từ ngày 17/02/2024.

*Biện pháp tư pháp:

+Áp dụng: điểm a, c khoản 01 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 02 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tuyên: Tịch thu tiêu huỷ 02 phong bì niêm phong đánh số 221/1, 221/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá tự chế là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị sử dụng.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 cân tiểu ly, 01 điện thoại di động hiệu Nokia bên trong chứa sim số 0343884771 là phương tiện phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 115 ngày 10/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.)

*Về án phí: aùp duïng Điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 28/6/2024).

Nơi nhận

THẨM PHIÊN TÒA

  • - VKSND thành phố Phan Thiết;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an thành phố Phan Thiết;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HSST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 137/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: *Căn cứ: Điểm b khoản 03 Điều 249; điểm r, s khoản 01 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. *Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Hiếu phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”. *Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Hiếu 11 (Mười một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ từ ngày 17/02/2024.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger