Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2023/KDTM-ST

Ngày: 27-12-2023

V/v: Tranh chấp hợp đồng kinh tế.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Quản Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hải Phùng;

Bà Vũ Thị Mai;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa: Không tham gia phiên tòa

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 36/2023/TLST-KDTM ngày 18 tháng 04 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 446 ngày 01/12/2023, về việc tranh chấp hợp đồng kinh tế, giữa:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần T2 (sau đây được viết tắt là Công ty T2); Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Hà L - Giám đốc; Trụ sở: Xóm C, xã H, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Việt Nam; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T; Địa chỉ: K+500 Quốc lộ F, B, H, Hà Nội. Có mặt.

Bị đơn: Công ty Cổ phần D (sau đây được viết tắt là Công ty D); Người đại diện theo pháp luật: Lâm Tuấn K - Tổng giám đốc; Trụ sở đăng ký: Số A tổ A ngõ A đường L, phường L, quận Đ, Hà Nội; Địa chỉ liên hệ: Nhà số F BT2 khu đô thị T, phường T, quận N, Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến trình bày của đương sự, nội dung vụ án như sau:

Ngày 20 tháng 01 năm 2021 Công ty TNHH D – nay là Công ty CP D (Bên A) và Công ty CP T2 (Bên B) ký Hợp đồng kinh tế số: 20121/HĐKT-TMHN/ML về việc mua bán thép xây dựng. Do Bên A thay đổi loại hình doanh nghiệp và thay đổi GCN đăng ký doanh nghiệp, nên ngày 25/02/2021 hai bên tiếp tục ký Hợp đồng kinh tế số 25221/HĐKT-TMHN/ML. Trong đó, bên mua là Công ty CP D (sau đây được

gọi tắt là “Minh L1”), bên bán là Công ty CP T2 (sau đây được gọi tắt là “T2”). Đối tượng Hàng H là các loại thép xây dựng. Sau khi ký kết hợp đồng, hai bên tiến hành mua bán hàng và thanh toán cụ thể:

Từ ngày 19/01/2021 đến ngày 13/08/2021 T2 đã bán hàng và xuất 27 hóa đơn tài chính cho Minh L1 với tổng trị giá tiền hàng: 23.601.933.868 đồng, chi tiết giá trị tiền hàng từng lần mua bán như sau:

  • - Ngày 19/01/2021: 551.396.428 đồng;
  • - Ngày 27/02/2021: 3.744.266.958 đồng;
  • - Ngày 01/03/2021 xuất 03 hóa đơn giá trị: 804.826.430 đồng; 528.639.055 đồng và 360.140.234 đồng;
  • - Ngày 22/03/2021: 1.158.619.018 đồng;
  • - Ngày 20/04/2021: 379.786.609 đồng;
  • - Ngày 22/04/2021: 653.308.994 đồng;
  • - Ngày 05/05/2021: 553.025.381 đồng;
  • - Ngày 08/05/2021: 515.173.984 đồng;
  • - Ngày 15/05/2021: 626.889.732 đồng;
  • - Ngày 17/06/2021: 500.138.584 đồng;
  • - Ngày 23/06/2021: 603.726.927 đồng;
  • - Ngày 24/06/2021 xuất 02 hóa đơn trị giá: 368.075.682 đồng và 594.829.895 đồng;
  • - Ngày 29/06/2021: 595.032.372 đồng;
  • - Ngày 03/07/2021: 1.689.911.394 đồng;
  • - Ngày 10/07/2021: 615.069.121 đồng;
  • - Ngày 13/07/2021: 595.635.801 đồng;
  • - Ngày 17/07/2021: 1.713.137.377 đồng;
  • - Ngày 30/07/2021: 600.465.011 đồng;
  • - Ngày 04/08/2021 xuất 02 hóa đơn trị giá: 577.966.221 đồng và 602.082.880 đồng;
  • - Ngày 06/08/2021: 2.231.383.394 đồng;
  • - Ngày 09/08/2021: 594.846.144 đồng;
  • - Ngày 11/08/2021: 591.566.107 đồng;
  • - Ngày 13/08/2021: 1.251.994.135 đồng.

Quá trình thanh toán, đến nay Công ty CP D thanh toán cho Công ty CP T2 41 lần với tổng số tiền: 23.560.922.401 đồng, chi tiết từng lần thanh toán như sau:

  • - Ngày 21/01/2021: 551.396.428 đồng;
  • - Ngày 26/02/2021: 1.500.000.000 đồng;
  • - Ngày 01/03/2021: 180.000.000 đồng;
  • - Ngày 02/03/2021: 500.000.000 đồng;
  • - Ngày 03/03/2021 thanh toán 02 lần: 423.191.665 đồng và 180.140.234 đồng
  • - Ngày 24/03/2021: 1.137.415.998 đồng;
  • - Ngày 14/04/2021: 300.000.000 đồng;
  • - Ngày 19/04/2021: 100.000.000 đồng;
  • - Ngày 20/04/2021: 250.000.000 đồng;
  • - Ngày 23/04/2021: 653.308.994 đồng;
  • - Ngày 06/05/2021: 546.473.122 đồng;
  • - Ngày 07/05/2021: 183.465.485 đồng;
  • - Ngày 20/05/2021: 376.768.470 đồng;
  • - Ngày 23/06/2021: 600.000.000 đồng;
  • - Ngày 29/06/2021: 200.000.000 đồng;
  • - Ngày 02/07/2021: 971.802.609 đồng;
  • - Ngày 06/07/2021: 342.063.717 đồng;
  • - Ngày 13/07/2021 thanh toán 02 lần: 1.720.000.000 đồng và 600.000.000 đồng;
  • - Ngày 29/07/2021: 1.000.000.000 đồng;
  • - Ngày 04/08/2021: 1.000.000.000 đồng;
  • - Ngày 05/08/2021 thanh toán 02 lần: 900.000.000 đồng; 100.000.000 đồng;
  • - Ngày 09/08/2021 thanh toán 02 lần: 750.000.000 đồng; 150.000.000 đồng;
  • - Ngày 12/08/2021: 1.800.000.000 đồng;
  • - Ngày 23/08/2021 thanh toán 02 lần: 1.900.000.000 đồng; 1.950.000.000 đồng;
  • - Ngày 16/09/2021: 500.000.000 đồng;
  • - Ngày 28/09/2021: 500.000.000 đồng;
  • - Ngày 15/10/2021: 300.000.000 đồng;
  • - Ngày 15/11/2021: 300.000.000 đồng;
  • - Ngày 08/12/2021: 300.000.000 đồng;
  • - Ngày 12/01/2022: 300.000.000 đồng;
  • - Ngày 28/01/2022: 200.000.000 đồng;
  • - Ngày 18/03/2022: 100.000.000 đồng;
  • - Ngày 08/04/2022: 50.000.000 đồng;
  • - Ngày 29/04/2022: 50.000.000 đồng;
  • - Ngày 07/06/2022: 50.000.000 đồng;
  • - Ngày 17/08/2022: 44.895.679 đồng.

Tại Điều 4 của Hợp đồng số 25221 quy định về điều khoản thanh toán:

  • - Thanh toán trước hoặc ngay sau khi giao nhận hàng.
  • - Đối với phương thức thanh toán tiền chậm, Bảo lãnh thanh toán thì phải có văn bản xác nhận và thống nhất của 2 bên.
  • - Nếu đến hạn thanh toán mà bên A (M) chưa thanh toán dứt điểm giá trị tiền hàng cho bên B (Thép H) là vi phạm Hợp đồng, khi đó Bên B (Thép H) có quyền đơn phương ngừng cấp hàng, đình chỉ việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà Bên A

(M) không được khiếu kiện; Đồng thời bên A (D) phải chịu lãi suất quá hạn 0.05%/ngày trong suốt thời gian quá hạn.

Tại Điều 7 Hợp đồng quy định: “...Chi phí Tòa án, chi phí Luật sư, chi phí thi hành án và các chi phí khác do bên có lỗi chịu”.

Sau lần thanh toán cuối cùng ngày 17/8/2022, đến nay Minh L1 (Bên A) còn nợ quá hạn T2 (Bên B) số tiền hàng: 41.011.467 đồng. Sau nhiều lần làm việc giải quyết xong vẫn chưa giải quyết dứt điểm số công nợ trên.

Công ty T2 yêu cầu Tòa án nhân dân quận Đống Đa:

Buộc Công ty Cổ phần D phải thanh toán toàn bộ tiền gốc và lãi và các chi phí khác theo Hợp đồng kinh tế số 25221/HĐKT-TMHN/ML cho Công ty Cổ phần T2, tổng cộng số tiền 686.825.038 đồng, cụ thể gồm:

  • - Tiền gốc: 41.011.467 đồng;
  • - Tiền lãi tạm tính đến ngày 20/4/2023: 526.013.571 đồng (Lãi suất tính căn cứ Điều 4 Hợp đồng: 0.05%/ngày );
  • - Chi phí Luật sư tạm tính: 100.000.000 đồng (Căn cứ Điều 7 Hợp đồng);
  • - Chi phí thi hành án tạm tính: 19.800.000 đồng (Căn cứ Điều 7 Hợp đồng);
  • - Và tiền lãi tính trên khoản còn phải trả cho đến ngày trả xong với mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng là 0.05%/ngày.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần triệu tập bị đơn nhưng bị đơn đều vắng mặt không có lý do, không gửi bất cứ văn bản nào đến Tòa.

Tại phiên tòa:

* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

- Nguyên đơn rút một phần yêu cầu, gồm yêu cầu về chi phí Luật sư và chi phí thi hành án.

- Các yêu cầu còn lại, nguyên đơn giữ nguyên ý kiến, quan điểm đã trình bày tại Đơn khởi kiện và tại các văn bản, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn trả nguyên đơn tổng số tiền 572.171.978 đồng, gồm:

  • - Tiền gốc: 41.011.467 đồng;
  • - Tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 531.160.511 đồng.

- Bị đơn còn tiếp tục phải trả lãi trên khoản tiền còn nợ từ ngày 28/12/2023 cho đến ngày trả xong khoản nợ, với mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng là 0.05%/ngày.

* Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

1. Về tố tụng:

- Tư cách bị đơn: Công ty TNHH D, đăng ký lần đầu ngày 01/10/2018; Ngày 25/01/2021 Công ty D thay đổi lần thứ nhất thành Công ty CP dịch vụ phát triển D. Do đó, Công ty T2 khởi kiện đối với Công ty D là phù hợp pháp luật.

- Thẩm quyền giải quyết: Căn cứ văn bản của Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố H thể hiện Bị đơn đăng ký trụ sở tại phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết và xét xử là đúng thẩm quyền.

- Việc xét xử vắng mặt đương sự: Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án cho các đương sự trong vụ án; quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.

- Việc rút một phần yêu cầu của nguyên đơn: Tại phiên toà nguyên đơn rút yêu cầu về chi phí Luật sư tạm tính: 100.000.000 đồng; Chi phí thi hành án tạm tính: 19.800.000 đồng; Việc rút một phần yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp pháp luật; Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu về chi phí luật sư và chi phí thi hành án.

2. Về nội dung:

2.1. Xét

Hợp đồng kinh tế số 20121/HĐKT-TMHN/ML ngày 20/01/2021 và Hợp đồng kinh tế số 25221/HĐKT-TMHN/ML ngày 25/02/2021 giữa Công ty DCông ty T2:

- Về hình thức: Hợp đồng kinh tế số 25221 được lập và ký bằng văn bản, có đóng dấu của hai doanh nghiệp;

- Về nội dung:

+. Chủ thể ký hợp đồng: Công ty D do ông Lâm Tuấn K1 - Tổng giám đốc và Công ty T2 do bà Nguyễn Thị T1 - Phó giám đốc ký (theo Giấy uỷ quyền số 2120 ngày 02/01/2020).

+. Đối tượng mua bán: Hai bên thỏa thuận việc mua bán thép cốt bê tông cán nóng các loại....

- Việc thực hiện hợp đồng: Sau khi ký hợp đồng, Công ty T2 đã cung cấp thép cho Công ty D theo thỏa thuận trong hợp đồng, có biên bản giao nhận hàng; Công ty T2 đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng theo quy định.

Hội đồng xét xử nhận định: Hình thức của hợp đồng được lập và ký bằng văn bản; Nội dung của hợp đồng được ký trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận, đối tượng mua bán (thép) phù hợp với đặc thù ngành nghề được cấp phép, phù hợp pháp luật; Quá trình thực hiện hợp đồng các bên không thắc mắc, không khiếu nại gì. Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 của Bộ luật dân sự; Điều 24 Luật Thương mại xác định các thoả thuận trong hợp đồng có hiệu lực, các bên có quyền, nghĩa vụ thực hiện các nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng.

2.2. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc:

Căn cứ Hợp đồng kinh tế số 20121/HĐKT-TMHN/ML ngày 20/01/2021 và Hợp đồng kinh tế số 25221/HĐKT-TMHN/ML ngày 25/02/2021 giữa Công ty DCông ty T2: Công ty T2 đã cung cấp thép cho Công ty D với tổng trị giá tiền hàng là 23.601.933.868 đồng; Công ty D đã 41 lần thanh toán trả Công ty T2 với tổng số tiền 23.560.922.401 đồng, hiện còn nợ số tiền gốc là 41.011.467 đồng.

Xét thấy: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ; Hoá đơn giá trị gia tăng Công ty T2 đã xuất cho Công ty D; Bảng sao kê từng đợt thanh toán và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được xem xét tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác nhận Công ty D nợ Công ty T2 số tiền nợ gốc 41.011.467 đồng. Nguyên đơn đã xuất hóa đơn gtgt cho bị đơn, đã hoàn thành nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng; do vậy, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp pháp luật. Căn cứ Điều 440 Bộ luật dân sự, Điều 34, Điều 35 và Điều 50 Luật Thương mại, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc, buộc Công ty D trả Công ty T2 số tiền nợ gốc 41.011.467 đồng.

2.3. Xét yêu cầu thanh toán lãi đối với số tiền nợ gốc:

Xét nội dung của các Hợp đồng kinh tế số 20121/HĐKT-TMHN/ML ngày 20/01/2021 và Hợp đồng kinh tế số 25221/HĐKT-TMHN/ML ngày 25/02/2021:

Tại nội dung Điều 4 của 02 hợp đồng trên đều thể hiện:

a) Phương thức thanh toán: Thanh toán bằng tiền mặt hoặc huyển khoản.

- Sau 3 ngày kể từ khi bên bán phát hành hoá dơn GTGT mà bên mua nhận được không có khiếu nại gì thì hai bên công nhận số liệu trên hoá đơn GTGT là giá trị hàng được hai bên chấp nhận.

b) Thời hạn thanh toán:

- Thanh toán trước hoặc ngay sau khi giao nhận hàng.

- Đối với phương thức thanh toán tiền chậm, bảo lãnh thanh toán thì phải có văn bản xác nhận và thống nhất của 2 bên.

- Nếu số dư nợ tiền hàng của bên A vượt quá quy định của bên B, mà bên A còn nhu cầu mua hàng tiếp thì bên A phải chuyển sang cơ chế mua bán thanh toán tiền ngay cho bên B, bên B mới tiếp tục cung cấp hàng cho bên A.

- Nếu đến hạn thanh toán mà bên A chưa thanh toán dứt điểm giá trị tiền hàng cho bên B là vi phạm hợp đồng, khi đó bên B có quyền đơn phương ngừng cấp hàng, đình chỉ việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà bên A không được khiếu kiện; Đồng thời bên A phải chịu lãi suất quá hạn 0,05%/ngày trong suốt thời gian quá hạn.

c) Đối chiếu công nợ:

- Bên A có trách nhiệm ký xác nhận Biên bản đối chiếu công nợ với bên B theo định kỳ 03 tháng/lần hoặc đột xuất theo yêu cầu của bên B. Bên A không ký Biên bản đối chiếu công nợ với bên B vì bất kỳ lý do gì hoặc không có phản hồi về các số liệu theo Biên bản đối chiếu công nợ do bên B đã gửi trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày bên A nhận được Biên bản thì bên B được hiểu rằng bên A đã chấp nhận các số liệu theo Biên bản đối chiếu công nợ và Bên A có trách nhiệm thanh toán tiền mua hàng theo số liệu của Biên bản đối chiếu công nợ bên B đã gửi.

- Biên bản đối chiếu công nợ bên B gửi bên A được bên A xác nhận qua hình thức gửi fax, email hoặc trực tiếp đều có giá trị pháp lý như nhau.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được xem xét đầy đủ, toàn diện tại phiên toà thấy: Từng đợt Công ty D giao hàng đối chiếu với từng đợt Công ty D trả tiền thấy: Công ty D thực tế đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo thoả thuận tại Điều 4 của các hợp đồng với số ngày chậm thanh toán tương ứng mà Công ty T2 đã liệt kê. Do đó, việc Công ty T2 yêu cầu Toà án buộc Công ty D thanh toán số tiền lãi là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Đối với lãi suất quá hạn 0,05%/ngày mà các bên thoả thuận tại hợp đồng tương ứng với 18,25%/năm là phù hợp với Điều 357, 440, 468 Bộ luật dân sự; Điều 306 Luật Thương mại nên chấp nhận, buộc Công ty D trả tiền lãi với mức lãi suất quá hạn 0,05%/ngày tương ứng với số tiền chậm thanh toán, với tổng số tiền lãi tính đến ngày 27/12/2023 là 531.160.511 đồng.

Công ty D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ theo mức lãi suất quá hạn các bên đã thoả thuận trong các hợp đồng nêu trên cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán.

* Về án phí: Công ty T2 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại. Công ty D phải chịu án phí theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

* Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án bằng nhiều hình thức để triệu tập bị đơn đến Toà thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự, tuy nhiên bị đơn đều vắng mặt, không đến Toà, không thể hiện ý kiến, quan điểm của mình, không thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng

dân sự; do đó, Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 50, 306 Luật Thương mại;
  • - Điều 401, Điều 357, Điều 440, Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  • - Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, 227, 228, Điều 235, Điều 271, Điều 273, Điều 280; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu thanh toán tiền mua hàng hoá còn thiếu của Công ty cổ phần T2 đối với Công ty cổ phần D.
  2. Xác nhận Công ty cổ phần D nợ Công ty cổ phần T2 số tiền 41.011.467 đồng (bốn mươi mốt triệu, không trăm mười một nghìn, bốn trăm sáu mươi bảy đồng), theo Hợp đồng kinh tế số 20121/HĐKT-TMHN/ML ngày 20/01/2021 và Hợp đồng kinh tế số 25221/HĐKT-TMHN/ML ngày 25/02/2021.
  3. Buộc Công ty cổ phần D trả Công ty cổ phần T2 tổng số tiền 572.171.978 đồng (năm trăm bảy mươi hai triệu, một trăm bảy mươi mốt nghìn, chín trăm bảy mươi tám đồng), gồm:
    • - Nợ gốc 41.011.467 đồng (bốn mươi mốt triệu, không trăm mười một nghìn, bốn trăm sáu mươi bảy đồng);
    • - Nợ lãi từ ngày 19/01/2021 đến ngày 27/12/2023 là: 531.160.511 đồng (năm trăm ba mươi mốt triệu, một trăm sáu mươi nghìn, năm trăm mười một đồng).
  4. Buộc Công ty cổ phần D tiếp tục phải trả Công ty cổ phần T2 số tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn nợ từ ngày 28/12/2023 cho đến ngày thực tế Công ty cổ phần D thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ gốc.
  5. Án phí: Công ty cổ phần T2 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại. Hoàn trả Công ty cổ phần T2 số tiền 16.500.000 đồng (mười sáu triệu, năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0071765 ngày 17/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa. Công ty cổ phần D phải chịu 26.886.879 (hai mươi sáu triệu, tám trăm tám mươi sáu nghìn, tám trăm bảy mươi chín) đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm (chưa nộp).

6. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu buộc bị đơn phải thanh toán chi phí luật sư và chi phí thi hành án.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Quản Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2023/KDTM-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng kinh tế

  • Số bản án: 137/2023/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng kinh tế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu thanh toán tiền mua hàng hoá còn thiếu của Công ty cổ phần T2 đối với Công ty cổ phần D. 2. Xác nhận Công ty cổ phần D nợ Công ty cổ phần T2 số tiền 41.011.467 đồng (bốn mươi mốt triệu, không trăm mười một nghìn, bốn trăm sáu mươi bảy đồng), theo Hợp đồng kinh tế số 20121/HĐKT-TMHN/ML ngày 20/01/2021 và Hợp đồng kinh tế số 25221/HĐKT-TMHN/ML ngày 25/02/2021.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger