|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 137/2024/HS-ST Ngày 27 - 8 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hoàng Nam |
| Ông Nguyễn Phước | |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Huỳnh Hoài Nam |
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 126/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 124/2024/QĐXXST - HS ngày 19/8/2024 đối với bị cáo:
Trần Hoàng N, sinh ngày: 01/11/1993 tại Sóc Trăng. Nơi cư trú: số C, đường T, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; con ông Trần Thanh V (chết) và bà Nguyễn Băng T; vợ: tên Quách Ngọc Bích T1; con: có 01 người; tiền sự: Không; tiền án: Không; Nhân thân: Vào ngày 04/8/2011 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/4/2024, chuyển tạm giam đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 00 phút ngày 20/4/2024, Lê Thanh T2 đang ở nhà số H, đường P, Khóm A, Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, thì bạn của T2 tên H (không rõ địa chỉ điều khiển xe mô tô đến rủ T2 đi thành phố S, tỉnh Sóc Trăng chơi. Khi đến thành phố S, H điện thoại rủ Trần Hoàng N và một người tên T3 (không rõ địa chỉ cụ thể) đi thuê phòng sử dụng ma túy. Sau đó, H điều khiển xe đến thuê phòng số 205, nhà nghỉ M, số H, đường V, Khóm C, Phường B, thành phố S để nghi. Sau khi vào phòng, H lấy ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy ra cho cả bốn người cùng sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong giữa H và T2 xảy ra mâu thuẫn nên H nói với N điều khiển xe mô tô chở T2 ra bến xe bắt xe khách về tỉnh Trà Vinh. Trước khi đi, H lấy số ma túy còn lại cả nhóm chưa sử dụng hết đổ vào trong ống nhựa và để vào bọc nylon cho N để sử dụng. Sau đó, N lấy số ma túy H cho treo lên xe mô tô biển số 83PT-443.58 và điều khiển xe mô tô chở T2 ra bến xe để T2 về tỉnh Trà Vinh. Khi N điều khiển xe mô tô chở T2 đến khu vực đường T, thành phố S, thì bị Đ1 Công an thành phố S ra hiệu lệnh dừng xe kiểm tra. N không dừng xe lại mà vứt gói nylon chứa ma túy xuống mặt đường tại khu vực trước nhà số D, đường T, Khóm H, Phường C, thành phố S, rồi tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy. Khi N điều khiển xe chở T2 đến đường L, thành phố S, thì N dừng xe cho T2 xuống, còn N tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy. Sau đó, Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố S phối hợp với Công an P, thành phố S kiểm tra bịch nylon mà N vứt xuống mặt đường khi bỏ chạy. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện bên trong bịch nylon có một đoạn ống nhựa chứa chất rắn màu trắng, một cái cân điện tử và hai cái nó thủy tinh. Nghi vấn chất rắn thu được là ma túy nên lực lượng chức năng đã lập biên bản sự việc và tiến hành niêm phong vật chứng gửi Cơ quan chuyên môn giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 65/KLMT-KTHS ngày 29 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,1552 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 132/CT-VKSTPST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Trần Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy:
- + Một gói niêm phong ghi số 2585/Sóc Trăng.
- + Một gói niêm phong vụ số 65/2024 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Phạm Thanh Trường S, Nguyễn Văn Đ, Lâm Thùy D, Công an thành phố S Huỳnh Ngọc T4.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng tội. Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Ngoài ra, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
[2] Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như các chứng cứ và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 20 tháng 04 năm 2024, tại trước nhà số D, đường T, Khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng bị cáo Trần Hoàng N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1552 gam, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước, đồng thời còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
[3] Các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng về nhân thân ngày 04/8/2011 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Xử lý vật chứng:
Đối với vật chứng: Một (01) gói niêm phong ghi số 2585/Sóc Trăng và Một (01) gói niêm phong vụ số 65/2024 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S cần tịch thu tiêu huỷ.
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người bị kết án phải chịu án phí 200.000 đồng.
[6] Đối với người tên H và T3 do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
[7] Đối với ông Lê Thanh T2 không biết bị cáo N tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng nên không có căn cứ để xử lý.
[8] Đối với nhà nghỉ M không biết H thuê phòng để tổ chức cho người khác sử dụng ma túy nên không có căn cứ để xử lý.
[9] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Trần Hoàng N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy.
- - Một (01) gói niêm phong ghi số 2585/Sóc Trăng.
- - Một (01) gói niêm phong vụ số 65/2024 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Phạm Thanh Trường S, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ, Lâm Thùy D; Công an thành phố S Huỳnh Ngọc T4.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng.
- Bị cáo được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Nam |
Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 137/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
