TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2023/HS-ST Ngày: 26 - 12 - 2023. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Doãn Văn Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Hoàn
Ông Trần Việt Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Dung- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 142/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2023/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 12 năm 2023, đối với:
- Bị cáo: Nguyễn Minh H, sinh năm 1993 tại huyện Đ, thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn T, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tiến T và bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; danh bản, chỉ bản số 379 do Công an huyện Đ lập ngày 23/10/2023; bị bắt tạm giữ, tạm giam: Không, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1969; nơi cư trú: Xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; hiện ở tại: Thôn T, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Danh T2, sinh năm 1995; nơi cư trú: P, xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Danh V, sinh năm 1995; nơi cư trú: Cụm A, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Tiến T, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn T, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 46 phút ngày 17/9/2023, Nguyễn Minh H, sinh năm 1993 ở thôn T, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội điều khiển xe mô tô BKS 29X3-604.85 đi trên đường T, khi đi đến số nhà A thuộc cụm A, xã T, huyện Đ thì xe của H va chạm với một xe mô tô do một người phụ nữ (không rõ tên tuổi, địa chỉ) điều khiển đang đi phía trước cùng chiều làm hai xe đổ ra đường nhưng không ai bị thương tích, xe không bị hư hỏng gì, người phụ nữ va chạm với H đã điều khiển xe đi. Sau khi dựng xe lên thì H chửi bâng quơ, gây hấn với người đi đường và dùng xe máy của mình chặn ngang đường giao thông, cản trở không cho các phương tiện đi qua. Mặc dù được mọi người nhiều lần dắt xe máy của H gọn vào lề đường nhưng H lại tiếp tục dắt xe máy của mình để lại vị trí cũ (4 lần) khiến cho các xe ô tô không lưu thông được. Trong các xe ô tô có xe nhãn hiệu Ford Ranger BKS 19C-184 66 do anh Nguyễn Danh V, sinh năm 1995 ở cụm 13, T, huyện Đ điều khiển chở theo Nguyễn Danh T2, sinh năm 1995 và Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 1969 đều ở xã L, huyện Y, tỉnh Phú Thọ đang đi trên đường T hướng T đi T. Sau đó, H được người dân giữ lại và dắt xe máy vào lề đường thì các phương tiện mới di chuyển qua được, rồi H tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đuổi theo xe ô tô của anh V. Khi đi đến ngõ A đường T thuộc cụm A, xã T, huyện Đ thì H điều khiển xe vượt lên trước và dừng xe lại phía trước đầu xe ô tô trên chặn không cho ô tô này di chuyển. H xuống xe và đi về phía cửa xe ô tô, vì tức giận với hành vi trên nên T2, Đ và V xuống xe dùng chân tay đấm, đá nhiều cái vào người H. Khi Công an xã T đến và thu giữ chiếc xe máy trên của H thì các phương tiện di chuyển bình thường. Quá trình xác minh tại địa phương cho biết nhiều người dân xung quanh cảm thấy hoang mang, lo sợ về hành vi của H và H có biểu hiện không bình thường, H dùng xe máy chặn xe giữa đường làm cho các phương tiện giao thông lưu thông qua đây bị ùn tắc, cản trở hoạt động đi lại của người dân khoảng 10 phút. Hành vi của H đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự địa phương, gây hoang mang lo lắng cho người dân xung quanh.
Ngày 20/10/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Minh H về tội Gây rối trật tự công cộng, quy định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Bản Cáo trạng số 146/CT-VKSĐP ngày 30 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H đã khai nhận hành vi của mình như nội dung nêu trên. Bị cáo cũng trình bày do ngày hôm đó H có sử dụng rượu bia nên đã có hành vi sai phạm, bị cáo nhận thức việc làm của mình là sai pháp luật nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Gây rối trật tự công cộng”, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo H từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, về vật chứng trả lại cho bị cáo 01 chiếc xe máy BKS 29X3-604.85.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh H đã khai nhận hành vi của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, được chứng minh bằng lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ 46 phút ngày 17/9/2023, tại đoạn đường Tỉnh lộ 422 thuộc cụm A, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội, do va chạm với xe mô tô của người phụ nữ không rõ tên tuổi, địa chỉ, bị cáo Nguyễn Minh H đã có hành vi gây hấn với người đi đường và dựng xe máy BKS 29X3-604.85 chắn ngang đường không cho các phương tiện lưu thông. Mặc dù đã được mọi người xung quanh can ngăn và dắt gọn xe của H vào lề đường nhưng H vẫn cố tình nhiều lần (04 lần lặp đi lặp lại) tiếp tục dắt xe chắn ngang đường, chửi bới bâng quơ, trên đường có rất nhiều phương tiện qua lại làm ách tắc giao thông. Sau đó, H tiếp tục điều khiển xe máy đuổi theo xe ô tô BKS 19C-184.66 của anh Nguyễn Danh V và chắn đầu xe ô tô dẫn đến hai bên xô sát. Khi Công an xã T đến và thu giữ chiếc xe máy trên của H thì các phương tiện di chuyển bình thường và sự việc chấm dứt.
Việc bị cáo H có hành vi nêu trên ở tại khu vực đường giao thông chính gây ách tắc giao thông, xung quanh có nhiều nhà dân khiến mọi người lo sợ, gây ảnh hưởng xấu anh ninh, trật tự công cộng và trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ gây rối trật tự nơi công cộng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo đủ các yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” qui định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trong bản cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng và nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa, gây náo loạn và ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mọi người ở nơi công cộng, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, chưa có tiền án và tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên xem xét cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ để giáo dục, răn đe bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, màu xanh đen BKS 29X3-604.85. Quá trình điều tra ông Nguyễn Tiến T và bị cáo H đều khai nhận nguồn gốc số tiền mua chiếc xe máy trên là do ông T bỏ tiền ra mua, bị cáo H chỉ đứng tên trên đăng ký xe máy. Xét chiếc xe máy mặc dù đứng tên bị cáo nhưng hiện bị cáo chưa có vợ con và vẫn sống cùng bố mẹ, đây là tài sản thiết yếu chung của gia đình ông T nên không tịch thu mà trả lại là phù hợp.
[5] Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Tiến Đ, Nguyễn Danh T2, Nguyễn Danh V có hành vi đánh bị cáo H nhưng do H từ chối giám định thương tích nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính là có căn cứ. Bị cáo Nguyễn Minh H bị xây xát nhẹ và tự chối giám định thương tích, không đề nghị gì về việc bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Minh H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Minh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Giao bị cáo Nguyễn Minh H cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Minh H 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, màu xanh đen BKS 29X3- 604.85 (Vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đan Phượng, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2023 với Công an huyện Đ, thành phố Hà Nội).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Doãn Văn Tuyến |
Bản án số 137/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 137/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAN PHƯỢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15 giờ 46 phút ngày 17/9/2023, Nguyễn Minh H, sinh năm 1993 ở thôn T, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội điều khiển xe mô tô BKS 29X3-604.85 đi trên đường T, khi đi đến số nhà A thuộc cụm A, xã T, huyện Đ thì xe của H va chạm với một xe mô tô do một người phụ nữ (không rõ tên tuổi, địa chỉ) điều khiển đang đi phía trước cùng chiều làm hai xe
