Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG

TỈNH ĐIỆN BIÊN

Bản án số: 137/2024/HS-ST

Ngày 26/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hồng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Lường Văn Dũng.
  • - Ông Bùi Như Lữ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Thơ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với:

- Bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn D (không có tên gọi khác), sinh năm 1984, tại tỉnh Điện Biên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Bản SM A, xã KL, huyện ĐBĐ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn B, sinh năm 1966 và bà Quàng Thị M, sinh năm 1966; vợ Quàng Thị Th, sinh năm: 1985; bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự: ngày 12/01/2022, bị cáo bị Tòa án nhân dân Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng kể từ ngày 16/12/2021. Ngày 16/6/2023 bị cáo chấp hành xong chưa được xóa tiền sự; nhân thân: chưa bị xét xử lần nào. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/5/2024 đến ngày 05/6/2024; tạm giam từ ngày 05/6/2024 cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị Thu Huyền là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ, ngày 27 tháng 5 năm 2024, Quàng Văn D đi bộ từ nhà đến bản Trung Sua, xã KL, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến bản Trung Sua, bị cáo gặp và nhờ một người phụ nữ dân tộc Mông, không biết tên, tuổi địa chỉ mua hộ được một gói Heroine với giá 20.000 đồng. Sau khi mua được Heroine bị cáo cất giấu Heroine vào túi áo ngực bên trái rồi đi tìm chỗ vắng để sử dụng bị cáo chưa kịp sử dụng thì đến 11 giờ 40 phút cùng ngày, khi bị cáo đang đi trong bản Trung Sua thì bị tổ công tác Công an xã KL, phát hiện, bắt quả tang thu giữ của bị cáo 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng đục nghi Heroine.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột màu trắng đục nghi Heroine.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 15 giờ 30 phút ngày 27/5/2024 xác định khối lượng chất bột màu trắng đục dạng nén nghi Heroine thu giữ của Quàng Văn D có khối lượng 0,12 gam. Gửi toàn bộ vật chứng đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 887/KL-KTHS ngày 02/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng thu giữ của Quàng Văn D có khối lượng 0,12 gam chất bột màu trắng đục dạng nén là chất ma túy loại Heroine. Hoàn lại 0,07 gam Heroine sau giám định.

Bản cáo trạng số: 98/CT-VKSĐBĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Quàng Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Quàng Văn D cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Quàng Văn D từ 13 tháng đến 16 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 0,07 gam Heroine còn lại sau khi giám định, tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng cùng vỏ phong bì niêm phong cũ của Công an huyện Điện Biên Đông.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, người bào chữa nhất trí với phân tích và đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Người bào chữa lập luận: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo học hết lớp 5 sau đó nghỉ học do đó nhận thức pháp luật còn hạn chế. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm trở về với gia đình và xã hội.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi của bị cáo Quàng Văn D thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, một lần nữa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Hồi 11 giờ 40 phút, ngày 27/5/2024, tại khu vực bản Trung Sua, xã KL, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, tô công tác Công an xã KL phát hiện, bắt quả tang Quàng Văn D cất giấu trái phép 0,12 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý ma túy của Nhà nước, làm mất ổn định trật tự trị an, an toàn xã hội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi tàng trữ trái phép 0,12 gam Heroine của bị cáo Quàng Văn D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c. Heroine, Cocaine, Heroine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Như vậy, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ cần chấp nhận.

[2]. Về tính chất, mức độ phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo sinh ra trong một gia đình thuần nông, được bố mẹ nuôi dưỡng, cho ăn học đến hết lớp 5, sau đó ở nhà lao động sản xuất. Bản thân bị cáo là người chồng, người cha của 02 người con nhưng không tu chí, làm gương cho các con mà lười lao động, thích ăn chơi đua đòi. Từ đó, dấn thân vào con đường nghiện chất ma túy, ngày 12/01/2022 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng kể từ ngày 16/12/2021. Ngày 16/6/2023 bị cáo chấp hành xong chưa được xóa tiền sự bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục sử dụng ma túy để đến ngày 27/5/2024, bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[3]. Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục đồng thời cai nghiện để bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ nhỏ, ở mức đầu khung do đó Hội đồng xét xử chấp nhận đề xuất của người bào chữa, cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt, không chấp nhận mức hình phạt mà kiểm sát viên đề xuất.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm nông nghiệp, là đối tượng nghiện chất ma túy, tài sản gia đình không có gì có giá trị, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do vậy, không có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa là phù hợp.

[4]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5]. Về vật chứng vụ án:

Đối với 0,12 gam Heroine, đã giám định hết 0,05 gam, vật chứng hoàn lại 0,07 gam là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 mảnh nilon màu hồng bị cáo dùng để gói Heroine cùng vỏ phong bì niêm phong cũ là vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

[6]. Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với người phụ nữ dân tộc Mông bị cáo khai là người bị cáo nhờ mua ma túy hộ, do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan CSĐT Công an huyện Điện Biên Đông, không có đủ thông tin để xác minh làm rõ, nên không không đề cập xử lý trong vụ án. HĐXX không xem xét.

[7]. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người dân tộc Thái sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Quàng Văn D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 27/5/2024).

  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu, tiêu hủy 0,07 gam Heroine hoàn lại sau giám định.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng cùng vỏ phong bì Công văn cũ của Công an huyện Điện Biên Đông.

    Vật chứng trên được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 08 giờ 00 phút ngày 29/8/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông.

  3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14;

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn D.

  4. Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 26/9/2024./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Điện Biên Đông;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Nhà tạm giữ C.A huyện Điện Biên Đông;
  • - Cơ quan CSĐT C.A huyện Điện Biên Đông;
  • - Phòng KTNV&THA TA tỉnh Điện Biên;
  • - Cơ quan THAHS C.A tỉnh Điện Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - CC.THADS huyện Điện Biên Đông;
  • - Lưu: Hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Lê Hồng Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 137/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn D tàng trữ traí phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger