Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/DS-ST;  

Ngày: 25 - 7 - 2024.  

Về việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Quân;

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Hương;

Ông Nguyễn Văn Hoa;

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú Đông: không tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số 97/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Địa chỉ: số B - 268, N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D– Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh T – chức vụ Trưởng Phòng G, thuộc chi nhánh T2 (theo Quyết định ủy quyền số 3525/2023/QĐ-PC ngày 25/12/2023);

Người đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Võ Thị Thanh N – sinh năm 1985, chức vụ Phó Phòng G (theo Giấy ủy quyền số ngày 22/4/2024);

Địa chỉ: ấp Q, xã L, huyện G, tỉnh Tiền Giang;

- 2 -

* Bị đơn: Ông Lưu Thái H – sinh năm 1983;

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, Tỉnh Tiền Giang;

(Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Võ Thị Thanh N trình bày:

Ông Lưu Thái H có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S – Phòng G thuộc Chi nhánh T2 (gọi tắt là Ngân hàng) theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 2671787 ngày 13/4/2023. Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp cho ông H thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 33,2%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, đến ngày 10/02/2024 ông H đã sử dụng 27.000.000 đồng trong thẻ, tiền lãi là 7.732.043 đồng, tiền phí là 1.101.708 đồng; ông H đã thanh toán cho Ngân hàng 6.000.000 đồng, còn nợ lại 29.833.751 đồng thì ngưng chuyển sang lãi quá hạn. Sau khi Ngân hàng khởi kiện, ông H có trả thêm 2 lần là 6.000.000 đồng. Tính đến ngày 14/6/2024, ông H còn nợ Ngân hàng gồm số dư nợ quá hạn 25.977.559 đồng, lãi quá hạn là 2.567.599 đồng, tổng cộng là 28.545.158 đồng.

Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H hoàn trả khoản nợ 28.545.158 đồng làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng từ ngày Tòa xét xử đến ngày ông H trả hết nợ.

* Bị đơn ông Lưu Thái H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về nội dung vụ án và vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

* Tại phiên tòa:

Đại diện nguyên đơn bà Võ Thị Thanh N có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, trong thời gian chờ xét xử ông H có trả tiếp được 2.000.000 đồng, nên Ngân hàng yêu cầu ông H trả số tiền vốn, phí quá hạn 23.977.559 đồng và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 25/7/2024 là 3.952.094 đồng, tổng cộng vốn và lãi tính đến ngày 25/7/2024 là 27.929.653 đồng, yêu cầu trả làm một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu sau ngày 25/7/2024 ông H còn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi chậm trả phát sinh theo hợp đồng đã ký kết.

Bị đơn ông Lưu Thái H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua xem xét lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

- 3 -

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Lưu Thái H trả số tiền vốn, tiền lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và được xem xét giải quyết theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, Bộ luật Dân sự cùng các quy định pháp luật khác có liên quan. Bị đơn cư trú tại xã P, huyện T, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông.

[2] Về tố tụng: Người đại diện của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên tòa dân sự sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt đối với người đại diện của nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Hợp đồng mở thẻ tín dụng là Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 2671787 ngày 13/4/2023 do nguyên đơn và bị đơn cùng thống nhất thỏa thuận ký kết bởi những người có thẩm quyền, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện khi giao kết hợp đồng, hình thức và nội dung hợp đồng không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Nên xác định hợp đồng tín dụng này hợp pháp, là căn cứ pháp lý để các bên phải thực hiện trách nhiệm theo cam kết.

[3.2] Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông H đã sử dụng 27.000.000 đồng trong thẻ, tiền lãi là 13.363.819 đồng, tiền phí là 1.565.834 đồng; ông H đã thanh toán cho Ngân hàng 14.000.000 đồng, còn nợ lại 23.977.559 đồng thì ngưng luôn đến nay là vi phạm thỏa thuận tại Điều 18, Điều 19, Điều 23 và Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng. Tính đến ngày 25/7/2024, dư nợ quá hạn là 23.977.559 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 25/7/2024 là 3.952.094 đồng, tổng cộng là 27.929.653 đồng.

[3.3] Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H trả hết số nợ 27.929.653 đồng, đồng thời yêu cầu ông H tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn từ sau ngày xét xử 25/7/2023 đến khi hết nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số 2671787 ngày 13/4/2023 là phù hợp quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ; nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- 4-

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

1. Buộc ông Lưu Thái H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tiền vốn và lãi tính đến ngày 25/7/2024 là 27.929.653 đồng (Hai mươi bảy triệu, chín trăm hai mươi chín nghìn, sáu trăm năm mươi ba đồng), trong đó dư nợ quá hạn 23.977.559 đồng, lãi quá hạn 3.952.094 đồng. Thực hiện trả khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Kể từ ngày 26/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Lưu Thái H còn phải tiếp tục trả lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất đã thỏa thuận theo hợp đồng cấp thẻ tín dụng số 2671787 ngày 13/4/2023. Trường hợp có điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay; thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và các văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Lưu Thái H phải chịu 1.396.400 đồng (Một triệu, ba trăm chín mươi sáu nghìn, bốn trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- H1 lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí 814.869 đồng (T1 trăm mười bốn nghìn, tám trăm sáu mươi chín đồng) theo biên lai số 0001689 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

- 5 -

sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Tân Phú Đông;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú Đông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Minh Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/DS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 137/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Sacombank kiện Lưu Thái Hưng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger