|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:137/2024/HS-ST Ngày: 25/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hương Lan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Trực.
- Bà Trần Thị Thanh Xuân.
Thư ký phiên toà: Bà Dương Thanh Huế- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Lê Bá Tuấn- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/TLST- HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST- HS ngày 12/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn H; Tên gọi khác: XiTa; Giới tính: Nam; Sinh ngày 06 tháng 4 năm 1998, tại: tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: 36 đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông: Phạm Văn T, sinh năm 1960; Con bà: Võ Thị Xuân H1, sinh năm 1960; Gia đình có 3 anh em ruột, bị cáo là con thứ 3; vợ Nguyễn Thị H2 đã ly hôn có 01 con 12 tuổi.
Quá trình nhân thân:
- - Ngày 18/7/2008, bị Công an thành phố H xử phạt 150.000 đồng vì có hành vì “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.
- - Ngày 10/01/2011, bị Công an thành phố H xử phạt 500.000 đồng vì có hành vì "Sử dụng trái phép chất ma túy":
- - Ngày 15/4/2013, bị Công an thành phố H xử phạt 1.500.000 đồng vì có hành vì "Dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản người khác".
Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 04 tiền án.
- - Ngày 29/11/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản" (Bản án số 291/2013/HSST):
- - Ngày 20/12/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" (Bản án số 199/PT);
- - Ngày 21/7/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản"; 01 năm 09 tháng tù về tội “Lừa đào chiếm đoạt tài sản"; 01 năm 03 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản". Tổng hợp hình phạt chung 04 năm 03 tháng tù (Bàn án số 145/2016/HSST);
- - Ngày 15/01/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế: xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 07 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Tổng hợp hình phạt chung 02 năm 10 tháng tù (Bản án số 01B/2021/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/7/2023 thì tiếp tục gây án.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giam từ ngày 12/12/2023, sau đó khởi tố chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H cho đến nay; có mặt.
* Bị hại:
Ông Nguyễn Hữu H3, sinh năm 1959; Địa chỉ: C Ông Í, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Châu Văn T1, sinh năm 1985; Địa chỉ: 1 L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 10/12/2023, Phạm Văn H đi bộ từ nhà mình ngang qua nhà ông Nguyễn Hữu H3 thì phát hiện cổng nhà đang đóng nhưng cửa nhà mở, bên trong có 2-3 lồng chim chào mào nên nảy sinh ý định trộm cắp. H trèo cổng vào trong nhà, lấy ghế bước lên trộm cắp 01 lồng chim bên trong có 01 con chim chào mào, rồi lấy áo khoác của mình trùm lại leo ra ngoài. Sau đó, H đi đến kiệt A L, phường P, thành phố H bán cho anh Châu Văn T2 lấy 600.000 đồng tiêu xài cá nhân hết.
Qua truy xét, Công an thành phố H mời H lên làm việc, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp vật chứng khi gây án gồm: áo, dép, mũ.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 264/KL-HĐĐGTS ngày 12/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận, tại thời điểm bị chiếm đoạt: 01 con chào mào và 01 lồng chim, có tổng trị giá 1.750.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng)
* Vật chứng tạm giữ:
- - 01 con chim chào mào và 01 lồng chim bằng kim loại;
- - 01 áo tay ngắn màu xám; 01 áo khoát bằng vải màu xanh xám; 01 mũ lưỡi trai màu xanh và đôi dép xỏ ngón màu đen;
- - 01 đĩa CD bên trong chứa dữ liệu Camera ghi lại hình ảnh 01 thanh niên gây án.
* Về xử lý vật chứng:
- - Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại 01 con chim chào mào và 01 lồng chim bằng kim loại.
- - Đối với 01 áo tay ngắn màu xám: 01 áo khoát bằng vải màu xanh xám; 01 mũ lưỡi trai màu xanh, đôi dép xỏ ngón màu đen và 01 đĩa CD bên trong chứa dữ liệu Camera ghi lại hình ảnh 01 thanh niên gây án tiếp tục tạm giữ phục vụ công tác xét xử, thi hành án.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Hữu H3 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Châu Văn T2 không có yêu cầu gì.
Bản cáo trạng số: 120/CT-VKSTPH ngày 21/3/2024 của Viện kiểm nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản";
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 12/12/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự tuyên: Tịch thu tiêu huỹ 01 áo tay ngắn màu xám: 01 áo khoát bằng vải màu xanh xám; 01 mũ lưỡi trai màu xanh, đôi dép xỏ ngón màu đen.
Đối với 1 đĩa CD bên trong chứa dữ liệu Camera ghi lại hình ảnh 01 thanh niên gây án tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền 600.000 đồng mà bị cáo đã bán con chim và lồng chim cho anh Châu Văn T1 đây là số tiền mà bị cáo thu lợi bất chính nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu vào ngân sách nhà nước.
Đối với anh Châu Văn T1 khi mua chim và lồng chim không biết do H trộm cắp mà có nên không có cơ sở xem xét xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là có căn cứ.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, Phạm Văn H khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 10/12/2023, tại số nhà C Ông Í, phường T, thành phố H, Phạm Văn H đã trộm cắp của ông Nguyễn Hữu H3 01 con chào mào và 01 lồng chim, có tổng trị giá là 1.750.000 đồng (một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Tài sản mà H trộm cắp, có tổng trị giá là 1.750.000 đồng; Nhưng vào ngày 15/01/2021, H đã bị Tòa án nhân dân thành phố Huế xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản"; 07 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Tổng hợp hình phạt chung 02 năm 10 tháng tù chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội do cố ý nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Phạm Văn H về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo Phạm Văn H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu, đã có 04 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Lẽ ra, khi ra tù bị cáo phải lấy đó làm bài học cho bản thân để phấn đấu trở thành một công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, nhưng do bản chất lười lao động, muốn hưởng thụ thành quả lao động của người khác nên mới dẫn đến phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng răn đe và làm gương cho kẻ khác.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào;
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Từ nhận định và căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tại phiên tòa là có căn cứ.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 áo sơ mi tay ngắn màu xám: 01 áo khoát bằng vải màu xanh xám; 01 mũ lưỡi trai màu xanh, đôi dép xỏ ngón màu đen không còn giá trị sử dụng do đó Hội đồng xét thấy cần tịch thu tiêu huỹ.
Đối với 1 đĩa CD bên trong chứa dữ liệu Camera ghi lại hình ảnh 01 thanh niên gây án cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền 600.000 đồng mà bị cáo đã bán con chim và lồng chim cho anh Châu Văn T1 đây là số tiền mà bị cáo thu lợi bất chính nên Hội đồng xét xử xét thấy tuyên buộc bị cáo phải nộp lại số tiền này để tịch thu vào ngân sách nhà nước.
Đối với anh Châu Văn T1 khi mua chim và lồng chim không biết do H trộm cắp mà có nên không có cơ sở xem xét xử lý về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nên không có cơ sở xem xét xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt ngày 12/12/2023.
2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên xử :
- -Tịch thu tiêu huỹ: 01 áo sơ mi tay ngắn màu xám có túi trước bên trái, nút áo màu trắng; 01 áo khoát bằng vải màu xanh xám dài tay, có mũ, khoá áo bằng dây kéo,
phía trước bên trái có hoạ tiết màu đỏ xanh vang và chữ “FCB”; 01 mũ lưỡi trai màu xanh có hoạ tiết hình tròn màu cam trắng có chữ Abian Family; 01 đôi dép xỏ ngón màu đen.
Các vật chứng trên có đặc điểm như mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 3 năm 2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Huế.
-Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp lại số tiền 600.000 đồng để thu vào ngân sách nhà nước.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phạm Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại (anh H3), người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh T1) vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 137/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
