|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 137/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-4-2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Lê Văn Quỳnh. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Bùi Thị Hoa |
| Ông Mai Xuân Thường |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 440/2023/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993;
- Địa chỉ cư trú: Xóm A (nay là xóm T), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng V, sinh năm 1992;
- Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Xóm A (nay là xóm T), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Hiện đang cư trú tại: Hàn Quốc; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Trọng V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 12 tháng 7 năm 2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian. Đến năm 2018, anh V đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Thời gian đầu, vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc, quan tâm lẫn nhau. Sau này, do cuộc sống xa cách nên vợ chồng ít liên lạc với nhau, tình cảm nhạt dần. Đến năm 2019, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng xa nhau, không thường xuyên liên lạc với nhau; về phía anh V không quan tâm đến vợ con nữa. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng V.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Trọng V có 01 con chung là Nguyễn Trọng K, sinh ngày 08/11/2017. Hiện con chung đang ở với chị và được chị chăm sóc. Nếu ly hôn, chị có nguyên vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Trọng V, hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng qua thân nhân của anh Nguyễn Trọng V là bà Phạm Thị T (mẹ của anh V) đến lần thứ hai mà thân nhân của anh V cũng không cung cấp địa chỉ của anh V ở nước ngoài cho Tòa án biết. Đồng thời cho đến nay, anh V cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án bà Phạm Thị T có đơn trình bày: Anh Nguyễn Trọng V là con của bà, kết hôn với chị Nguyễn Thị L, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào năm 2016. Hiện anh V đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc. Bà và anh V vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua ứng dụng mạng xã hội Facebook để hỏi thăm sức khỏe và công việc. Tuy nhiên, do anh V không cung cấp địa chỉ cho bà nên bà không thể cung cấp địa chỉ của anh V ở Hàn Quốc cho Tòa án được. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án thì bà đã thông tin cho anh V biết việc chị L nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì anh V cũng đồng ý ly hôn nhưng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án. Việc anh Nguyễn Trọng V vắng mặt được xác định là cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị L, cho chị L được ly hôn với anh Nguyễn Trọng V. Về con chung: Đề nghị giao cho chị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Trọng K, sinh ngày 08/11/2017 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị L không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu và anh V chưa có ý kiến nên đề nghị không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị L hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng V hiện đang cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, anh V có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.
Về thủ tục hòa giải: Theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn anh Nguyễn Trọng V không thể tham gia hòa giải được do vắng mặt tại nơi cư trú và hiện đang ở nước ngoài, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh V vẫn cố tình vắng mặt.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L đã nộp đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ cho Tòa án nhưng do bận công việc nên chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Trọng V hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh V thông qua người thân là bà Phạm Thị T (mẹ của anh V) gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn “Yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh Nguyễn Trọng V”; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác. Đồng thời, yêu cầu anh V trình bày ý kiến của mình về việc chị L có đơn ly hôn. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh V cũng không cung cấp địa chỉ của anh V ở nước ngoài cho Tòa án biết. Về phía bà Phạm Thị T có đơn trình bày: Anh Nguyễn Trọng V là con của bà, kết hôn với chị Nguyễn Thị L, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào năm 2016. Hiện anh V đang sinh sống và lao động tại Hàn Quốc. Bà và anh V vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua ứng dụng mạng xã hội Facebook để hỏi thăm sức khỏe và công việc. Tuy nhiên, do anh V không cung cấp địa chỉ cho bà nên bà không thể cung cấp địa chỉ của anh V ở Hàn Quốc cho Tòa án được. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án thì bà đã thông tin cho anh V biết việc chị L nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì anh V cũng đồng ý ly hôn. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 29/3/2024 và lần thứ hai vào ngày 25/4/2024 nhưng cả hai lần anh V đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc anh Nguyễn Trọng V vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo theo quy định tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không rõ địa chỉ. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Trọng V kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày 12 tháng 7 năm 2016, là hôn nhân hợp pháp. Theo chị L trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian. Đến năm 2018, anh V đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Thời gian đầu, vợ chồng vẫn thường xuyên liên lạc, quan tâm lẫn nhau. Sau này, do cuộc sống xa cách nên vợ chồng ít liên lạc với nhau, tình cảm nhạt dần. Đến năm 2019, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng xa nhau, không thường xuyên liên lạc với nhau, về phía anh V không quan tâm đến vợ con nữa. Theo Công văn số 33531/QLXNC-P3 ngày 14/12/2023 của Cục Q, Bộ C cung cấp: Anh Nguyễn Trọng V xuất nhập cảnh nhiều lần (03 lượt), lần gần nhất xuất cảnh ngày 21/03/2018 qua Cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Nay chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng V. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L va anh Nguyễn Trọng V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị L yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
[3]. Về con chung: Theo chị Nguyễn Thị L trình bày, chị và anh Nguyễn Trọng V có 01 con chung. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Trọng K đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Nguyện vọng của chị L phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và đúng quy định của pháp luật; vì hiện nay chị L là người trực tiếp nuôi con, còn anh V đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ. Căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị L. Giao cho chị Nguyễn Thị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Trọng K, sinh ngày 08/11/2017 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị L không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu và anh Nguyễn Trọng V chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
[5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị L.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Trọng V.
- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Nguyễn Trọng K, sinh ngày 08/11/2017, đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị L không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Trọng V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết trong vụ án này; dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị L đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001428 ngày 21/12/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị L đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Anh Nguyễn Trọng V có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Văn Quỳnh |
Bản án số 137/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 137/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa L và V
