Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/HS-ST

Ngày: 24/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Hùng.

Bà Bạc Thị Kiên.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 144/2024/TLST- HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với Bị cáo:

1. Họ và tên: Vừ A T; sinh năm: 1978, tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vừ Chồng D (đã chết); Con bà: Vàng Thị M (đã chết); Vợ là Mùa Thị M1; sinh năm 1984. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/01/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 21/01/2024, Vừ A T cầm theo số tiền 2.150.000 đồng đi bộ một mình từ nhà tại bản H, xã N, huyện Đ đến đầu bản Huổi Chanh, xã N, huyện Đ với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến đầu bản Huổi Chanh, xã N, Bị cáo có gặp một người đàn ông dân tộc Mông (Không biết tên, tuổi, địa chỉ), Bị cáo hỏi người đàn ông: “Anh có mang Heroine bán không?", người đàn ông trả lời: "Có mang một ít, muốn mua bao nhiêu?". Bị cáo nói: “Tôi muốn mua 150.000 đồng Heroine, 2.000.000 đồng H phiến", người đàn ông đồng ý và bản ma túy cho Bị cáo. Bị cáo lấy số tiền 2.150.000 đồng để sẵn trong chiếc túi vải thổ cẩm đeo trước bụng, sau đó đưa cho người đàn ông đó, người đàn ông cầm số tiền 2.150.000 đồng và đưa lại cho Bị cáo 01 túi nilon màu xanh, miệng túi có khóa zip; 01 gói nilon màu hồng, miệng gói được hơ lửa, hàn kín. Sau khi mở kiểm tra bên trong túi nilon màu xanh, miệng túi có khóa zip là hồng phiến, bên trong gói nilon màu hồng là Heroine, T cất giấu toàn bộ số ma túy vừa mua được cho vào chiếc túi vải thổ cẩm đeo trước bụng rồi đi bộ về nhà tại bản H, xã N. Khi về đến nhà, thấy không có ai Bị cáo đã lấy toàn bộ số ma túy vừa mua được ra và lấy một lọ nhựa hình trụ tròn có nắp màu trắng (là lọ thuốc đã sử dụng hết). Bị cáo lấy một phần (Bị cáo không rõ số lượng) từ túi nilon màu xanh, miệng túi có khóa zip cho vào một lọ nhựa hình trụ tròn trong suốt có nắp màu trắng. Sau đó, Bị cáo tiếp tục mở một gói nilon màu hồng, bên trong là H1 dùng dao cắt, chia thành nhiều cục nhỏ rồi dùng mảnh nilon màu hồng gói 01 cục Heroine, hơ lửa, hàn kín miệng gói lại. Cùng với số H1 còn lại Bị cáo đã cho toàn bộ vào trong một lọ nhựa màu xanh, nắp màu xanh. Sau khi đã chia nhỏ, T cho toàn bộ số ma túy vào trong chiếc túi vải thổ cẩm để tiện sử dụng cho nhu cầu bản thân. Đến ngày 24/01/2024, Bị cáo mang theo chiếc túi vải thổ cẩm đeo trước bụng để đi làm nương, khi đang đi trên đường thuộc bản Huổi Chanh, xã N thì gặp Tổ công tác Đồn Biên phòng M2. Quá trình kiểm tra đã phát hiện và thu giữ tại túi vải thổ cẩm của Bị cáo đeo trước bụng số ma túy đã cất giấu. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và đưa T cùng toàn bộ vật chứng về Đồn Biên phòng M2 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/01/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Vừ A T như sau: Vật chứng là các viên nén màu hồng có ký hiệu, khối lượng M1 là 6,29 gam. Vật chứng là chất bột màu trắng có ký hiệu, khối lượng M2 là 0,82 gam. Tổng khối lượng 02 chất ma túy là: 7,11 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 343/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:

  • - Mẫu viên nén màu hồng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Vừ A T ký hiệu M1 gửi giám định là chất ma túy: loại Methamphetamine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 5,9 gam.
  • - Mẫu chất bột màu trắng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Vừ A T ký hiệu M2 gửi giám định là chất ma túy: loại Heroine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 0,66 gam.

Tại bản cáo trạng số: 87/CT-VKSHĐB ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Vừ A T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249/BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo: Từ 05 năm 03 tháng đến 05 năm 09 tháng về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.

Tịch thu tiêu hủy gồm: 5,9 gam Methamphetamine và 0,66 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định và 01 lọ hình trụ tròn trong suốt có nắp nhựa màu xanh; 01 lọ hình trụ tròn trong suốt, có nắp nhựa màu trắng; 02 mảnh nilon màu hồng; 01 túi nilon màu xanh, miệng túi có khóa zip; 01 túi vải màu xanh họa tiết thổ cẩm.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Vừ A T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 24/01/2024 tại khu vực bản H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 6,29 gam Methamphetamine và 0,82 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

...n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này".

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.

[2] Về tính chất của vụ án:

Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, của Bị cáo:

  • - Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên, đi học đến lớp 3/12 sau đó nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 1996 bị cáo kết hôn với chị Mùa Thị M1; sinh năm 1984. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2009. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2020 cho đến ngày bị bắt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS, ngoài hình phạt chính “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xong xét hoàn cảnh gia đình Bị cáo khó khăn, Bị cáo nghề nghiệp làm nương, không có công ăn việc làm ổn định nên không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án:

Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, vật chứng vụ án cần xử lý như sau:

- Tịch thu tiêu hủy gồm: 5,9 gam Methamphetamine và 0,66 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định và 01 lọ hình trụ tròn trong suốt có nắp nhựa màu xanh; 01 lọ hình trụ tròn trong suốt, có nắp nhựa màu trắng; 02 mảnh nilon màu hồng; 01 túi nilon màu xanh, miệng túi có khóa zip; 01 túi vải màu xanh họa tiết thổ cẩm.

[6] Các vấn đề khác:

Trong quá trình điều tra Bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu). Do Bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có đủ cơ sở, tài liệu làm căn cứ để điều tra xác minh làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án này.

[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[8] Về án phí:

Tại phiên tòa Bị cáo xin HĐXX xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện Kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

[9] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng:

    Điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố:

    Bị cáo Vừ A T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Xử phạt Bị cáo:

    05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (24/01/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án:

    Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

    * Tịch thu tiêu hủy gồm: 5,9 gam Methamphetamine và 0,66 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định và 01 lọ hình trụ tròn trong suốt có nắp nhựa màu xanh; 01 lọ hình trụ tròn trong suốt, có nắp nhựa màu trắng; 02 mảnh nilon màu hồng; 01 túi nilon màu xanh, miệng túi có khóa zip; 01 túi vải màu xanh họa tiết thổ cẩm đã hết giá trị sử dụng.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

  3. Về án phí:

    Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/5/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Nhà tạm giữ CAHĐB;
  • - VKSND H. Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT CAHĐB;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS HĐB;
  • - Toà án ND tỉnh Điện Biên;
  • - Bộ phận HSNV C.an HĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA

Trần Thị Tố Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 137/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Vừ A T 5 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger