|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 137/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-4-2024 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trần Văn Triều
2/ Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/3/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1904/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc K, sinh năm 1974.
Địa chỉ: D Đường số D, Khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp nhận văn bản tố tụng của ông K: Ông Bùi Hiền Đ, sinh năm 1972.
Địa chỉ: B Đường số B, Khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Chân P, sinh năm 1971.
Địa chỉ: 8134 14th A, B, BC, Canada.
Người đại diện hợp pháp nhận văn bản tố tụng của bà P: Ông Bùi Hiền Đ, sinh năm 1972.
Địa chỉ: B Đường số B, Khu phố B, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Các đương sự vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn ông Phạm Ngọc K trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị Chân P kết hôn vào năm 1999, theo giấy chứng nhận kết hôn số 78, quyển số 02/99 do Ủy ban nhân dân phường B, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/1999.
Sau khi kết hôn, hai bên chung sống hạnh phúc một thời gian, sau đó nảy sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách sống, vợ chồng không thể trao đổi bàn bạc với nhau, không tìm được tiếng nói chung. Hai bên không tin tưởng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Ông và bà Nguyễn Thị Chân P đã nhiều lần tự hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được và sống ly thân đến nay đã được 48 tháng.Nhận thấy hạnh phúc hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ông yêu cầu Tòa án sớm giải quyết cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Chân P.
Về con chung: Ông và bà Nguyễn Thị Chân P có 02 con chung tên Phạm Nguyễn Linh Đ1 (nữ), sinh ngày 25/9/2001 và Phạm Nguyễn Nam K1 (nam), sinh ngày 14/01/2007, hiện nay đang sinh sống với bà P tại Canada nên ông đồng ý giao con chung cho bà P tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc.
Về cấp dưỡng nuôi con, ông đề nghị cấp dưỡng nuôi con Phạm Nguyễn Nam K1 35.000.000đ/tháng cho đến khi con Nam Kha đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có
Tại Bản tự khai ngày 03/4/2024 được T tại V, Canada chứng thực hợp pháp hóa lãnh sự số 06.4/2024, quyền số 01-SCTCK ngày 03/4/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Chân P trình bày:
Bà và ông Phạm Ngọc K kết hôn vào năm 1999, theo giấy chứng nhận kết hôn số 78, quyển số 02/99 do Ủy ban nhân dân phường B, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/1999.
Về quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng bà thống nhất như trình bày của ông Phạm Ngọc K. Hiện nay ông Phạm Ngọc K đang yêu cầu ly hôn với bà tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên đối với yêu cầu của ông Phạm Ngọc K bà có ý kiến như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn với ông Phạm Ngọc K
Về con chung: Bà và ông Phạm Ngọc K có 02 con chung tên Phạm Nguyễn Linh Đ1 (nữ), sinh năm 2001 và Phạm Nguyễn Nam K1 (nam), sinh năm 2007, hiện nay đang sinh sống với bà tại Canada. Bà thống nhất 02 con do bà tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc, ông K1 cấp dưỡng nuôi con Phạm Nguyễn Nam K1 35.000.000đ/tháng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2
Về nợ chung: Không có..
Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do có ông K1 có đơn ngày 03/4/2024 yêu cầu tòa án không tiến hành hòa giải khi ly hôn.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn ông Phạm Ngọc K, bị đơn bà Nguyễn Thị Chân P đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án :
Nguyên đơn ông Phạm Ngọc K đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam có đơn xin ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị Chân P đang cư trú tại Canada đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37 ; Điều 38 ; Điều 40; Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 123 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về tố tụng:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ các bên tham gia phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Ngọc K, bị đơn bà Nguyễn Thị Chân P đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn ông Phạm Ngọc K, bị đơn bà Nguyễn Thị Chân P có đăng ký kết hôn vào năm 1999, theo giấy chứng nhận kết hôn số 78, quyển số 02/99 do Ủy ban nhân dân phường B, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/12/1999, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Theo ông Phạm Ngọc K và bà Nguyễn Thị Chân P trình bày: Sau khi kết hôn, hai bên chung sống hạnh phúc một thời gian, sau đó thì nảy sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cách sống và không tìm được tiếng nói chung, không tin tưởng, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, hai bên đã nhiều lần tự hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, qua một thời gian nói chuyện thì hai bên đã thống nhất ly hôn. Hiện nay, hai bên đã sống ly thân thời gian 48 tháng, không ai còn quan tâm đến đời sống của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, việc hàn gắn là không thể thực hiện được.
Ông Phạm Ngọc K nhận thấy không còn tình cảm với bà Nguyễn Thị Chân P, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn để ổn định cuộc sống. Về
3
phía bà Nguyễn Thị Chân P có bản tự khai đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Phạm Ngọc K.
Xét thấy, vợ chồng có quyền, nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xây dựng gia đình hạnh phúc, đây cũng là mục đích của hôn nhân. Do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, điều kiện địa lý khách quan nên thực tế vợ chồng bà Nguyễn Thị Chân P, ông Phạm Ngọc K đã không còn chung sống với nhau dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng càng kéo dài, cả hai đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Phạm Ngọc K xin ly hôn và Nguyễn Thị Chân P đồng ý thuận tình ly hôn là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Ông K và bà P cùng thống nhất có hai con chung là Phạm Nguyễn Linh Đ1 (nữ), sinh năm 2001, hiện đã thành niên và Phạm Nguyễn Nam K1 (nam), sinh ngày 14/01/2007, hiện nay đang sinh sống với bà P tại Canada. Sau khi ly hôn cả hai bên thống nhất giao con chung Nam Kha cho bà Nguyễn Thị Chân P trực tiếp nuôi dưỡng, ông Phạm Ngọc K cấp dưỡng nuôi con 35.000.000đ/tháng cho đến khi Phạm Nguyễn Nam K1 đủ 18 tuổi. Xét thấy việc thỏa thuận này là tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xét.
Về nợ chung: Hai bên xác định không có, nên không xét.
[4] Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 đồng nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Ông Phạm Ngọc K và bà Nguyễn Thị Chân P được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ luật Thi hành án dân sự 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử :
4
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Ngọc K.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Ngọc K và bà Nguyễn Thị Chân P thuận tình ly hôn.
-Về con chung: con chung Phạm Nguyễn Linh Đ1 (nữ), sinh năm 2001, hiện đã thành niên; con chung Phạm Nguyễn Nam K1 (nam), sinh ngày 14/01/2007, hiện nay đang sinh sống với bà P tại Canada.
Công nhận sự thỏa thuận của ông Phạm Ngọc K và bà Nguyễn Thị Chân P, thống nhất giao con chung Phạm Nguyễn Nam K1 cho mẹ là bà Nguyễn Thị Chân P trực tiếp nuôi dưỡng, ông Phạm Ngọc K cấp dưỡng nuôi con 35.000.000đ/tháng, hai bên tự giao nhận tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng cho đến khi con Phạm Nguyễn Nam K1 đủ 18 tuổi.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
2. Về án phí và thi hành án:
Thi hành dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bà P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông K1 không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ số tiền như đã thỏa thuận trên thì hàng tháng ông K1 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành.
Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000đ (ba trăm nghìn), án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp[ dưỡng nuôi con 300.000đ (ba trăm nghìn), tổng cộng hai khoản 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) ông Phạm Ngọc K phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền ông Phạm Ngọc K đã nộp tạm ứng án phí theo
5
biên lai thu tiền số 0031959 ngày 26/02/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông K còn phải nộp thêm 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Ông Phạm Ngọc K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Bà Nguyễn Thị Chân P được quyền kháng cáo trong hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Phương |
6
Bản án số 137/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 137/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
