TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:137/2024/HS - ST Ngày 23/07/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: | Ông Ngô Minh Cường |
| Các Hội thẩm nhân dân: | 1. Ông Nguyễn Văn Vĩ |
| 2. Ông Dương Văn Xuyên |
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên toà: Ông Tạ Quốc Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 23/07/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2024/TLST-HS ngày 20/05/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 07 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2002, tại Lạng Sơn; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1981; Họ và tên mẹ: Lâm Thị C, sinh năm 1984.
Theo danh bản, chỉ bản số 63 lập ngày 11/01/2024 tại Công an huyện S thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024.
- Họ và tên: Lý Mạnh H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 30/7/2006, tại Lạng Sơn; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 09/12; Họ và tên cha: Lý Văn S, sinh năm 1981; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị Diệu T2, sinh năm 1986.
Theo danh bản, chỉ bản số 64 lập ngày 11/01/2024 tại Công an huyện S thì bị cáo có nhân thân như sau: Ngày 19/11/2023, Cơ quan CSĐT - Công an huyện V, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024.
- Họ và tên: Hoàng Trung N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2005, tại Lạng Sơn; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 11/12; Họ và tên cha: Không xác định; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị O, sinh năm 1967.
Theo danh bản, chỉ bản số 62 lập ngày 11/01/2024 tại Công an huyện S thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024.
- Họ và tên: Lê Văn Trung H1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/03/2006, tại Lạng Sơn; Nơi cư trú: Thôn L, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 9/12; Họ và tên cha: Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1989; Họ và tên mẹ: Lê Thị Kim H2, sinh năm 1986.
Theo danh bản, chỉ bản số 65 lập ngày 11/01/2024 tại Công an huyện S thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024.
- Họ và tên: Triệu Thanh H3; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; sinh năm 2005, tại Lạng Sơn; Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 10/12; Họ và tên cha: Triệu Văn B, sinh năm 1979; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị Q, sinh năm 1983.
Theo danh bản, chỉ bản số 61, lập ngày 11/01/2024 tại Công an huyện S thì bị cáo có nhân thân như sau:
Bản án số 210/2022/HSST ngày 25/11/2022, Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự (Bị cáo phạm tội khi 16 tuổi 7 tháng 08 ngày). Ngày 28/08/2023, bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án (đã được xóa án tích);
Bị cáobị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lý Mạnh H là ông Lý Văn S, sinh năm 1981 và bà Hoàng Thị Diệu T2, sinh năm 1986 – bố, mẹ đẻ của bị cáo. Địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Văn Trung H1 là bà Lê Thị Kim H2, sinh năm 1986 – mẹ đẻ của bị cáo. Địa chỉ: Làng Á, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
- Người bào chữa cho bị cáo Lý Mạnh H và Lê Văn Trung H1 là ông Vũ Văn D – Trợ giúp viên pháp lý Chi nhánh số 05, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 14h30' ngày 07/01/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện S, phối hợp với Công an xã M đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn A, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội đã phát hiện Lý Mạnh H đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda BKS 12H1 - 302.23 chở Lê Văn Trung H1 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Tại đây, Lê Văn Trung H1 tự nguyện giao nộp 01 bao thuốc màu đen có in chữ GET HIGH, bên trong có 07 điếu thuốc chứa thảo mộc khô và 02 túi nilon bên trong chứa thảo mộc khô. H và Trung H1 khai là ma túy loại thuốc lá C1 đang đem đi bán. Tổ công tác đã lập biên bản và bắt giữ H và Lê Văn Trung H1 trong trường hợp khẩn cấp.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 12 năm 2023, Lý Mạnh H, Hoàng Trung N, Triệu Thanh H3 cùng nhau thuê phòng trọ tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang (do anh Nguyễn Việt H4, sinh năm 1980, tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang làm chủ). Tại đây, N, H và Thanh H3 nói với nhau ở phòng trọ, nếu có người hỏi mua ma túy loại thuốc lá Chill hoặc ma túy loại Tobaco thì các đối tượng sẽ liên hệ với Nguyễn Văn T để đặt mua ma túy và bán lại cho các đối tượng có nhu cầu mua, với giá 550.000đ/bao, bên trong có 07 điếu thuốc chứa thảo mộc khô; 90.000đ/01 điếu thuốc bên trong chứa thảo mộc và 200.000đ/túi nilon bên trong chứa thảo mộc khô. Sau khi thống nhất, H, N và Thanh H3 thay nhau đi bán ma túy cho khách và thu thêm tiền công ship hàng để kiếm lời.
Khoảng 20 giờ ngày 04/01/2024, H sử dụng tài khoản Facebook tên “Lý Mạnh H” nhắn tin vào tài khoản Facebook tên “Chú bé đần” của T để hỏi mua 04 bao thuốc bên trong mỗi bao thuốc có 07 điếu thuốc là loại ma túy Chill với giá 1.000.000đ và hẹn khi nào bán được ma túy sẽ thanh toán tiền cho T, T đồng ý và hẹn giao dịch ma túy tại phòng trọ của T ở thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 21 giờ ngày 04/01/2024, H đến phòng trọ của T. Tại đây, T đưa cho 04 bao thuốc lá màu đen, có in chữ GET HIGH, bên trong mỗi bao thuốc có 07 điếu thuốc chứa thảo mộc khô, tổng số là 28 điếu thuốc chứa thảo mộc khô cho H. Sau đó, H đem ma túy về phòng trọ cất giấu. Ngày 05/01/2024, Lê Văn Trung H1 xuống phòng trọ của H, N, Thanh H3 và Trung H1 xin tham gia cùng vào việc bán ma túy để kiếm lời, tất cả đồng ý. Khoảng 13 giờ ngày 05/01/2024, tài khoản zalo tên Đinh T3 nhắn tin vào tài khoản zalo của N hỏi mua 02 túi nilon là ma túy loại Chill với giá 550.000đ (trong đó 400.000₫ là tiền ma túy và 150.000đ tiền công ship ma túy) thì N đồng ý hẹn địa điểm giao nhận ma túy tại địa bàn huyện S, thành phố Hà Nội. Tại phòng trọ có H, Thanh H3 và Trung H1, N nói “có khách đặt mua ma túy” nên Thanh H3 vào tủ lấy số ma túy theo yêu cầu của khách và để ma túy ở trên giường. Sau đó, N chở Trung H1 ngồi sau cầm theo 02 túi nilon là ma túy loại Chill đi đến khu vực thôn A, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội để giao ma túy. Đến nơi, Trung H1 đưa 02 túi nilon là ma túy loại C1 cho người nam giới có tài khoản zalo tên Đinh T3 và người này đưa tiền cho Trung H1. Sau khi bán được ma túy N và Trung H1 về phòng trọ, số tiền bán ma túy được T đã cất vào trong tủ để cả nhóm phục vụ vào việc chi tiêu cá nhân. Số ma túy còn lại mua của T nhóm của H đã bán hết cho khách.
Tiếp đến 20 giờ ngày 06/01/2024, H nhắn tin vào tài khoản facebook của T để hỏi mua 10 túi ma túy loại tobaco và 05 bao thuốc là loại ma túy Chill với giá 2.000.000₫, hẹn khi nào bán được ma túy sẽ trả tiền thì T đồng ý. Khoảng 21 giờ ngày 06/01/2024, H và N xuống phòng trọ của T tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Tại đây, H trả cho T số tiền 1.000.000đ là số tiền H đã mua ma túy của T ngày 04/01/2024, rồi T đưa cho H 10 túi ma túy loại tobaco và 05 bao thuốc loại ma túy Chill. Nhận được ma túy, H và N lại đem về phòng trọ cất giấu. Khoảng 12 giờ ngày 07/01/2024, tài khoản Zalo tên Đinh T3 liên hệ với N đặt mua 02 túi ma túy loại Tobaco và 01 bao thuốc bên trong có có 07 điếu thuốc là ma túy loại Chill với giá 1.200.000đ, trong đó 950.000đ là tiền bán ma túy, 250.000đ là tiền công ship ma túy đến cho khách thì N đồng ý, người này gửi vị trí cho N để N đem ma túy đến. Cùng lúc này, trong phòng trọ có H, N, Thanh H3 và Trung H1, N nói “có khách ở S, Hà Nội mua, ai đi ship thì đi” Trung Hiếu và H đồng ý đi ship ma túy cho khách. Sau đó, H vào nơi cất giấu ma túy lấy số ma túy theo yêu cầu của khách rồi đưa cho Trung H1, N đưa điện thoại cho H để H đi ship cho khách. H điều khiển khiển xe mô tô hiệu Honda BKS 12H1 - 302.23 chở Trung H1 đi giao ma túy cho khách tại huyện S, Hà Nội. Khi đi đến điểm hẹn thuộc địa phận A, xã T, huyện S, Hà Nội để chờ giao ma túy túy cho người nam giới có tài khoản zalo tên Đinh T3 thì bị bắt giữ.
Tiến hành xét nghiệm nước tiểu, kết quả: Lý Mạnh H, Lê Văn Trung H1, Hoàng Trung N, Triệu Thanh H3 phản ứng dương tính với chất ma túy; Nguyễn Văn T phản ứng âm tính với ma túy.
Vật chứng thu giữ của Lê Văn Trung H1: 01 bao thuốc màu đen có ghi chữ GET HIGH, bên trong có 07 điếu thuốc chứa thảo mộc khô và 02 túi nilon bên trong chứa thảo mộc khô; Thu giữ của Lý Mạnh H: 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu xanh và 01 xe mô tô hiệu Honda BKS 12H1 - 30223.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Trung N tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang, cơ quan điều tra đã thu giữ 07 túi nilon bên trong chứa thảo mộc khô bên trong chứa chất ma túy loại MDMD - FUBINACA; 04 bao thuốc lá màu đen có in chữ GET HIGH bên trong mỗi bao có 07 điếu thuốc chứa thảo mộc khô là ma túy loại MDMD - FUBINACA; 01 bao thuốc lá màu đen có in chữ GET HIGH bên trong có 01 điếu thuốc chứa thảo mộc khô là ma túy loại MDMD - FUBINACA; 02 túi nilon chưa qua sử dụng. N khai số ma túy mà N và H mua của T vào ngày 06/01/2024, đem về cất giấu để nhằm mục đích bán cho người khác đề kiếm lời. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Triệu Thanh H3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS MAX màu vàng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T tại thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bắc Giang, cơ quan điều tra đã thu giữ 03 túi nilon kích thước khoảng (10 x 15) cm bên trong chứa thảo mộc khô là ma túy loại MDMD - FUBINACA. T khai nhận đấy là số ma túy của T cất giấu ở phòng trọ nhằm mục đích bán để kiếm lời. Ngoải ra cơ quan điều tra còn thu giữ của T 03 túi nilon kích thước khoảng (7 x 5) cm chưa qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng.
* Kết luận giám định số 574 ngày 16/01/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận:
- - Tang vật thu giữ của Lê Văn Trung H1 gồm 02 túi nilon và 07 điếu thuốc (để trong 01 bao thuốc màu đen có in chữ GET HIGH) chứa thảo mộc khô đều có ma túy loại MDMB - FUBINACA, có khối lượng là 10,824 gam.
- - Tang vật thu giữ khi khám xét tại chỗ ở của Hoàng Trung N gồm 07 túi nilon và 29 điếu thuốc (để trong 05 bao thuốc màu đen có in chữ GET HIGH) chứa thảo mộc khô đều có ma túy loại MDMB - FUBINACA, có khối lượng là 40,711 gam.
- - Tang vật thu giữ khi khám xét tại chỗ ở của Nguyễn Văn T gồm 03 túi nilon bên trong chưa thảo mộc khô đều có ma túy loại MDMB - FUBINACA, có khối lượng là 82,703 gam.
* Kết luận giám định số 1296/KL-KTHS ngày 01/03/2024 của V, Bộ C2 kết luận: Không xác định được hàm lượng, khối lượng chất ma túy MDMB - FUBINACA trong các mẫu gửi giám định, do lượng MDMB - FUBINACA có trong các mẫu ở lượng vết.
Quá trình giám định, cơ quan giám định đã lấy 4,618 gam mẫu thảo mộc khô trong phong bì thu giữ của Lê Văn Trung H1 làm mẫu giám định, số còn lại là 6.206 gam chứa thảo mộc khô; lấy 5,31 gam mẫu thảo mộc khô trong 01 hộp nhựa thu giữ của Hoàng Trung N làm mẫu giấm đính, số còn lại là 35,401 gam chứa thảo mộc khô; lấy 12,86 gam mẫu thảo mộc khô trong phong bì thu giữ của Nguyễn Văn T làm mẫu giám định, số còn lại là 69,843 gam chứa thảo mộc khô.
Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda BKS 12H1 – 30223, các bị cáo chở nhau đi bán ma túy: Quá trình điều tra xác định là của anh Lạc Văn P (sinh năm 1996; trú tại: Thôn G, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn) bán cho ông Hoàng Văn Á (sinh năm 1983; trú tại: Thôn C, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn), ông Á đã cho con trai là anh Hoàng Trường G mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 16/4/2024, Công an huyện S đã trả lại chiếc xe trên cho chủ sở hữu.
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo T bán cho nhóm của H vào các ngày 04/01/2024 và ngày 06/01/2024 và số ma túy giữ tại phòng trọ của T. Quá trình điều tra xác định T mua qua mạng xã hội Facebook, không biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật. Đối với các đối tượng mua ma túy của nhóm H: Quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với khối lượng ma túy để truy tố các bị cáo: Trong tổng 134,238 gam khối lượng thảo mộc khô bị thu giữ thì Kết luận giám định của V - Bộ C2 xác định hàm lượng ma túy MDMB - FUBINACA ở lượng vết nên không có căn cứ xác được 134,238 gam là ma túy MDMB - FUBINACA.
Tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 07/05/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và đồng phạm về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Đ b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. nội dung điều luật quy định:
- “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- 2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- ........;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- ...;
- 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến dướ 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện S, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có căn cứ xác định: Ngày 07/01/2024, tại địa phận thôn A, xã T, huyện S, thành phố Hà Nội, Lê Văn Trung H1 và Lý Mạnh H đã có hành vi tàng trữ trái phép 10,824 gam chứa thảo mộc khô (lượng vết ma túy loại MDMB - FUBINACA), nhằm mục đích để bán kiếm lời thì bị Công an huyện S kiểm tra, bắt giữ. Cơ quan CSĐT - Công an huyện S còn thu giữ 40,711 gam chứa thảo mộc khô (lượng vết ma túy loại MDMB - FUBINACA) tại chỗ ở nhóm của Lý Mạnh H, với mục đích để bán kiếm lời.
Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ trên là của Nguyễn Văn T bán cho nhóm của Lý Mạnh H. Cơ quan CSĐT - Công an huyện S còn thu giữ 82,703 gam chứa thảo mộc khô (lượng vết ma túy loại MDMB - FUBINACA) tại chỗ ở của T, T khai nhận số ma túy tàng trữ trên nhằm mục đích để bán kiếm lời.
Quá trình điều tra còn xác định: Ngày 04/01/2024, nhóm của H mua của Nguyễn Văn T 28 điếu thuốc chứa thảo mộc khô cho H. Sau đó, H đem ma túy về phòng trọ cất giấu. Ngày 05/01/2024, nhóm của H đem về bán cho đối tượng không quen biết có tài khoản zalo tên “Đinh Tiệp” để thu lời bất chính.
Hành vi của Nguyễn Văn T và đồng phạm đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Đ b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội; Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy do đó cần phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự - tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nữa mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Vụ án này có đồng phạm mang tính giản đơn; Lý Mạnh H có vai trò là người khởi xướng và tích cực cùng với Nguyễn Văn T, Hoàng Trung N, Lê Văn Trung H1, Triệu Thanh H3 thực hiện hành vi phạm tội. Triệu Thanh H3 có nhân thân xấu (ngày 25/11/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”). Các bị cáo Lý Mạnh H, Lê Văn Trung H1 khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng các quy định khác đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại chương XII Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Lý Mạnh H đều có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung. Đối với số tiền thu lời bất chính của các bị cáo cần được truy thu để sung ngân sách Nhà nước.
[4] Xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 thùng giấy kích thước 30x25cm được dán niêm phong bên trong chứa ma túy tạm giữ có chữ ký của Lý Mạnh H, Hoàng Trung N, Nguyễn Văn T cần tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng, tại thời điểm kiểm tra không lên được nguồn, máy tạm giữ của bị cáo Nguyễn Mạnh H5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, tạm giữ cuat Nguyễn Văn T, số IMEI 3557300763135177 cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- + Đối với 01 điện thoại Iphone màu vàng, số IMEI 357274093618932 trả lại cho bị cáo Triệu Thanh H3.
[5] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lý Mạnh H, Lê Văn Trung H1, Hoàng Trung N, Triệu Thanh H3, Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2.1. Áp dụng Đ b Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.
2.2. Áp dụng Đ b Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao:
- + Xử phạt bị cáo Triệu Thanh H3 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.
- + Xử phạt bị cáo bị cáo Hoàng Trung N 7 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.
2.3. Áp dụng Đ b Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 101Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao: Xử phạt bị cáo Lý Mạnh H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.
2.4. Áp dụng Đ b Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao: Xử phạt bị cáo Lê Văn Trung H1 05 (năm) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.
- 3. Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 thùng giấy kích thước 30x25cm được dán niêm phong bên trong chứa ma túy tạm giữ có chữ ký của Lý Mạnh H, Hoàng Trung N, Nguyễn Văn T.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh đã qua sử dụng, tại thời điểm kiểm tra không lên được nguồn, máy tạm giữ của bị cáo Lý Mạnh H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, tạm giữ của Nguyễn Văn T, số IMEI 3557300763135177.
- + Trả lại cho bị cáo Triệu Thanh H3 01 điện thoại Iphone màu vàng, số IMEI 357274093618932.
- (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/06/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án huyện Sóc Sơn).
- + Truy thu tiền thu lời bất chính: Đối với bị cáo Nguyễn Văn T là 1.000.000 đồng; liên đới đối với các bị cáo Lý Mạnh H, Lê Văn Trung H1, Hoàng Trung N, Triệu Thanh H3 là 550.000 đồng.
- + Buộc các bị cáo Lý Mạnh H, Lê Văn Trung H1, Hoàng Trung N, Triệu Thanh H3 và Nguyễn Văn T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Minh Cường |
Bản án số 137/2024/HS - ST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 137/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lý Mạnh Hùng và đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
