|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 137/2025/HS-PT Ngày 19 tháng 12 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Trọng và bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lụa -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà:
Ông Bùi Đức Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ cơ sở 2, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2025/TLPT-HS, ngày 06 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Trần Xuân Q và Trần Quốc V.
Do có kháng cáo của các bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Phú Thọ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2025/QĐ-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Xuân Q, sinh năm 1968, tại tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Q, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc nay là thôn Q, xã S, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Khi phạm tội là Chủ tịch UBND xã Đ; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, Đoàn thể: Là Đảng viên Đ2 đã bị khai trừ đảng năm 2023; con ông Trần Xuân T và con bà Lương Thị C (đều đã chết); có vợ Trần Thị P, sinh năm 1973 và có 03 con (lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 2014). Tiền án, tiền sự: Không;
Về nhân thân: Tại Bản án số 42/2023/HS-ST ngày 27/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sông Lô xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" (Hành vi phạm tội xảy ra năm 2020), bị cáo hiện đang chấp hành thời gian thử thách án treo. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương, (có mặt).
2. Họ và tên: Trần Quốc V, sinh năm 1965, tại tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc nay là thôn V, xã S, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Khi phạm tội là thủ quỹ và Chủ tịch Hội chữ thập đỏ UBND xã Đ; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và con bà Chu Thị S (đều đã chết); có vợ: Trần Thị L, sinh năm 1965 và có 04 con (lớn sinh năm 1984, nhỏ sinh năm 1990); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương, (có mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo Trần Xuân Q và Trần Quốc V: Ông Trần Văn L1 – Luật sư thuộc Văn phòng L4, Đoàn luật sư tỉnh P, (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc V: Ông Trần Anh T1 và Nguyễn Xuân Q1 - Luật sư Công ty L5, Đoàn Luật sư thành phố H, (có mặt).
- Bị hại có kháng cáo: Bà Bùi Thị P1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là thôn V, xã S, tỉnh Phú Thọ), (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dụng vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Xuân Q là công chức tài chính - kinh tế xã được Hội đồng nhân dân (HĐND) xã Đ bầu và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện S ra Quyết định phê chuẩn kết quả bầu bổ sung Chủ tịch UBND xã Đ nhiệm kỳ 2016 - 2021 (đến tháng 7/2021 tiếp tục được HĐND xã Đ bầu giữ chức Chủ tịch UBND xã Đ nhiệm kỳ 2021 - 2026). Xuất phát từ việc muốn củng cố địa vị, uy tín, quyền lực cá nhân trong thời gian UBND - HĐND xã Đ đang tổ chức sắp xếp nhân sự cho Đại hội nhiệm kỳ 2021 - 2026, do thời điểm này giáp tết nguyên đán 2021 và Ngân sách không đủ chi cho các hoạt động của UBND xã nên Trần Xuân Q đã chỉ đạo Trần Quốc V - Thủ quỹ UBND xã (thời gian này chị T2 - Kế toán UBND xã đang nghỉ chế độ thai sản) phải vay tiền của các cá nhân để chi cho các hoạt động của xã, V đã ứng một phần tiền cá nhân để chi nhưng vẫn không đủ, Q tiếp tục chỉ đạo V vay mượn tiền để phục vụ chi tiêu nhưng không được cá nhân nào cho vay.
Cùng vào thời điểm này gia đình bà Bùi Thị P1 có 01 thửa đất tại tờ bản đồ số 06, diện tích 80m² ở sứ đồng Đ, thôn C, xã Đ (thửa đất này trước đây là đường đi vào thôn C, xã Đ nhưng khi nhà nước mở đường mới thì diện tích đất bỏ trống nên gia đình bà P1 khai hoang sử dụng). Đến ngày 11/5/2014, gia đình bà P1 được UBND xã Đ ký hợp đồng giao nhận thầu diện tích đất đó với lý do đã có thời gian cải tạo sử dụng đất từ năm 1986 đến nay. Năm 2021, bà P1 xây dựng lều quán cho thuê trên phần diện tích đất này. Qua nắm bắt thông tin địa phương đang tuyên truyền thực hiện Kế hoạch số 54 của UBND tỉnh V về xử lý vi phạm đất đai, bà P1 mong muốn được UBND xã Đ đưa diện tích đất này vào diện xử phạt theo kế hoạch 54 để sau đó được cấp quyền sử dụng cho gia đình. Vì có sắn tiền thu hoạch cá nên bà P1 đã chủ động đến UBND xã Đ gặp Trần Xuân Q - Chủ tịch UBND xã đặt vấn đề xin được nộp tiền cấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên.
Do là công chức tài chính - kinh tế xã lâu năm, Q biết rõ UBND cấp xã không có thẩm quyền thu tiền và làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) nhưng vì đang cần tiền để chi cho hoạt động của các ban ngành đoàn thể xã trong dịp Tết nguyên đán 2021, vì vậy Q đã chỉ đạo Trần Quốc V là Thủ quỹ UBND xã Đ thu số tiền 600.000.000đ của bà P1, sau đó V viết phiếu thu (số 03 ngày 20/01/2021) tại tập Phiếu thu (02 liên) với nội dung là “Tạm thu tiền cấp quyền sử dụng đất ở chờ quyết định” rồi đưa cho bà P1 ký dưới mục Người nộp tiền và Trần Xuân Q ký dưới mục Giám đốc; còn V ký dưới mục Thủ quỹ. Sau khi thu khoản tiền trên, Q và V không báo cáo với Đảng uỷ và Ban thường vụ Đảng uỷ xã, không kê khai, hạch toán vào Ngân sách nhà nước mà sử dụng chi cho các hoạt động của các ban ngành, đoàn thể, chi đền bù thu hồi đất và cá nhân Q, từng khoản chi được V ghi chép riêng vào sổ tay cá nhân có chữ ký xác nhận của những người nhận tiền. Cụ thể đó là:
- Chi cho bà Nguyễn Thị Hương L2 - Văn phòng Đảng ủy xã số tiền 95.000.000đ. Lý do: Ngày 05/01/2021, bà L2 tạm ứng cho tổng kết chi bộ, Đảng bộ năm 2020.
- Chi cho bà Nguyễn Thị Hương L2 - Văn phòng Đảng ủy xã số tiền 800.000đ. Lý do: Ngày 07/01/2021, bà L2 đã tạm ứng trước số tiền 800.000đ để chi tiếp khách về làm việc với Đảng ủy.
- Chi cho công tác đền bù 11 hộ dân giải phóng mặt bằng mở rộng sân Trung tâm văn hóa xã Đ tại khu vực xứ đồng Nhà Mối, thôn Y là 124.767.000đ.
- Ngày 25/01/2021, chi cho chị Nguyễn Thị D - Văn phòng UBND xã Đ tạm ứng số tiền là 22.680.000đ. Bao gồm: Công tác văn phòng là 6.920.000đ; Chuyển đổi ISO9001 năm 2020 là 15.260.000đ; Nhận chữ ký số là 500.000đ.
- Ngày 25/01/2021, chi cho chị Nguyễn Thị Hương L2 - Văn phòng Đảng ủy xã số tiền 40.000.000đ với lý do: Chi tạm ứng công tác Đảng.
- Ngày 26/01/2021, chi cho anh Nguyễn Đức T3 - Chỉ huy trưởng quân sự xã số tiền 20.000.000đ. Lý do: Chi công tác quân sự.
- Ngày 26/01/2021, chi cho chị Nguyễn Thị D - Văn phòng UBND xã Đ tạm ứng số tiền là 50.000.000đ. Lý do: Chi tạm ứng công tác văn phòng.
- Ngày 26/01/2021, chi cho Trần Xuân Q- Chủ tịch số tiền là 20.000.000đ. Lý do: Tạm ứng công tác Tết.
- Ngày 26/01/2021, chi cho ông Dương Hải Đ - Cán bộ nông nghiệp, kiêm Chủ tịch công đoàn xã tạm ứng tổng số tiền là 10.000.000đ. Lý do: Chi cho công tác nông nghiệp là 5.000.000đ, chỉ công tác công đoàn cơ sở là 5.000.000đ.
- Ngày 26/01/2021, chi cho ông Trần Xuân B - nhân viên Đài truyền thanh xã số tiền 5.000.000đ. Lý do: Chi công tác truyền thanh.
- Ngày 26/01/2021, chi cho chị Triệu Thị Thu T4 - Cán bộ văn hóa xã số tiền 30.000.000đ. Lý do: Chi tạm ứng công tác văn hóa.
- Ngày 26/01/2021, chi cho ông Nguyễn Xuân T5 - Cán bộ Lao động thương binh xã hội số tiền 5.000.000đ. Lý do: Chi tạm ứng công tác Thương binh xã hội.
- Ngày 26/01/2021, chi cho ông Nghiêm Xuân T6 - Trưởng Công an xã số tiền 30.000.000đ. Lý do: Chi tạm ứng công tác Công an.
- Ngày 26/01/2021, chỉ cho ông Lộc Đức T7 - Chủ tịch Hội da cam xã số tiền 3.000.000đ. Lý do: Chi tạm ứng công tác Hội da cam.
- Ngày 26/01/2021, chi cho ông Nguyễn Xuân T8 - Phó Chủ tịch HĐND xã số tiền 14.200.000đ. Lý do: Chi công tác Hội đồng 10.000.000đ; Cấp tiền kỳ họp Hội đồng số 14 là 4.200.000đ.
- Ngày 26/01/2021, chi cho ông Nguyễn Văn H1 - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã, kiêm Chủ tịch Hội người cao tuổi xã số tiền 8.000.000đ. Lý do: Chi công tác Hội Cựu chiến binh là 5.000.000đ; Công tác Hội người cao tuổi là 3.000.000đ.
- Ngày 26/01/2021, chi cho bà Nguyễn Dung H2 - Chủ tịch Hội phụ nữ xã tổng số tiền 5.000.000đ. Lý do: Chi công tác Hội phụ nữ.
- Ngày 26/01/2021, chi cho ông Lộc Đức C1 - Chủ tịch Hội nông dân xã số tiền 5.000.000đ. Lý do: Chi tạm ứng công tác Hội nông dân.
- Ngày 26/01/2021, chi cho ông Nguyễn Xuân S1 - Cán bộ tư pháp xã số tiền 5.000.000đ. Lý do: Chi công tác tư pháp.
- Ngày 26/01/2021, chi cho ông Bùi Hùng M - Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã số tiền 10.000.000đ. Lý do: Chi công tác Mặt trận tổ quốc.
- Ngày 26/01/2021, chi cho ông Nguyễn Ngọc L3 - Phó bí thư Đoàn thanh niên xã số tiền 5.000.000đ. Lý do: Chi công tác Đoàn.
- Ngày 27/01/2021, chi cho ông Bùi Xuân K - Chủ tịch Hội khuyến học xã số tiền 3.000.000đ. Lý do: Chi công tác Hội khuyến học.
- Ngày 27/01/2021, chi cho ông Nguyễn Xuân V1 - Chủ tịch Hội Thanh niên xung phong xã số tiền 3.000.000đ. Lý do: Chi công tác Hội.
- Ngày 27/01/2021, chi cho ông Hoàng Văn P2 - Chủ tịch Hội giáo chức xã số tiền 3.000.000đ. Lý do: Chi công tác Hội.
- Ngày 28/01/2021, chi cho ông Nguyễn H3 - Cán bộ Hộ tịch xã số tiền 5.000.000đ. Lý do: Chi công tác Hộ tịch.
- Ngày 29/01/2021, chi cho ông Nguyễn Văn Đ1 - Cán bộ địa chính xã số tiền 5.000.000đ. Lý do: Chi công tác địa chính.
- Ngày 04/02/2021, chi cho chị Nguyễn Thị Hương L2 - Cán bộ Văn phòng Đảng ủy số tiền 40.000.000đ. Lý do: Chi công tác Đảng.
- Ngày 04/02/2021, chi cho chị Nguyễn Thị D - Cán bộ Văn phòng ủy ban xã số tiền 50.000.000đ. Lý do: Chi công tác Văn phòng.
(Tổng chi vượt hơn số tiền tạm thu của bà P1 là 17.447.000 đồng, số tiền 17.447.000 đồng được V lấy từ nguồn tiền chi khác sang).
Sau khi thu tiền của gia đình bà Bùi Thị P1 thì Q và V không có bất cứ động thái hay làm thủ tục gì liên quan đến cấp quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bà P1, bà P1 đợi lâu thấy không được cấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên nên ngày 15 và 20/5/2024, bà P1 đã đơn đến UBND xã Đ, UBND huyện S để phán ánh về nội dung nộp tiền sử dụng đất nhưng không được cấp quyền sử dụng đất và đề nghị xử lý theo quy định pháp luật. Chủ tịch UBND huyện S đã có văn bản chỉ đạo Công an huyện S tiến hành xác minh, giải quyết vụ việc.
Ngày 03/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện S thụ lý tin báo, tố giác tội phạm theo quy định. Quá trình làm việc, ngày 23/7/2024, Trần Xuân Q và Trần Quốc V đã tự nguyện thoả thuận hoàn trả cho bà P1 tổng số tiền 701.000.000đ (trong đó tiền gốc là 600.000.000đ và 101.000.000đ tiền lãi suất tính theo như tiền gửi Ngân hàng), đến nay bà P1 không yêu cầu hay đề nghị gì khác.
* Kết quả giám định
+ Giám định tài liệu tại PC09:
Cơ quan CSĐT Công an huyện S ra Quyết định trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký trên tờ Phiếu thu số 03 ngày 20/01/2021, Phòng K1 Công an tỉnh V có văn bản số 2578/KL-KTHS ngày 06/9/2024, kết luận:
- "- Chữ ký dưới mục “Giám đốc” so với chữ ký của ông Trần Xuân Q trên các mẫu so sánh do cùng một người viết ra;
- - Chữ viết, chữ ký đứng tên “Bùi Thị P1” dưới mục “Người nộp tiền” so với chữ viết, chữ ký của Bùi Thị P1 trên các mẫu so sánh do cùng một người viết, ký ra;
- - Chữ viết tại các mục “Họ và tên người nộp tiền, địa chỉ, lý do nộp, số tiền, viết bằng chữ” so với chữ viết của Trần Quốc V trên mẫu so sánh do cùng một người viết ra.
- - Chữ viết, chữ ký dưới mục “Thủ quỹ” so với chữ ký, chữ viết của Trần Quốc V trên mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra".
+ Giám định Sở Tài nguyên và môi trường:
Cơ quan CSĐT Công an huyện S ra Quyết định trưng cầu giám định, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh V có văn bản số 60/KL-GĐTT ngày 09/9/2024, kết luận:
- “- Nguồn gốc, quá trình sử dụng đất: Thửa đất có vị trí tại khu vực Đ, thôn C, xã Đ. Theo bản đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất (Bản đồ địa chính hệ toạ độ VN B) xã Đ thì thửa đất này nằm giáp thửa đất số 318, 328; tờ bản đồ số 23 (tờ bản đồ 06) diện tích 80m2. Theo bản đồ địa chính 299 thì vị trí thửa đất thuộc tờ bản đồ số 13 có nguồn gốc là đường giao thông đi vào nghĩa trang L6 (bà P1 sử dụng theo hợp đồng giao của UBND xã Đ năm 2014). Vì vậy, nếu trường hợp thửa đất đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải thực hiện thu tiền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo qui định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 8; Điều 9 Nghị Định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định về thu tiền sử dụng đất. Pháp luật đất đai không có quy định về tạm thu cấp quyền sử dụng đất chờ quyết định.
- - Về đối tượng thu tiền sử dụng đất: Theo Điều 2 Nghị định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định đối tượng thu tiền sử dụng đất, được hướng dẫn tại Khoản 1, Điều 2 Thông tư 76/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2024 của Bộ T9, như sau: “Tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (sau đây gọi tắt là tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân) được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất thuộc trường hợp phải nộp tiền sử dụng đất. theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 45/2014/NĐ-CP.
- Theo nội dung của hồ sơ sự việc được nêu tại Quyết định số 529/QĐ-ĐTTH ngày 26/8/2024 của Cơ quan CSĐT - Công an huyện S thì Bùi Thị P1 không phải thuộc đối tượng được giao đất quy định tại Khoản 1, Điều 55; Khoản 1, 2, Điều 118 Luật Đất đai 2013; Điều 4, 5 Quyết định số 42/2014/QĐ-UBND ngày 15/9/2014, được sửa đổi bổ sung tại Điều 1 Quyết định 28/2016/QĐ-UBND ngày 18/05/2016 của UBND tỉnh V và chưa được cấp có thẩm quyền giao đất quy định tại Điểm a, Khoản 2, Điều 59 Luật Đất đai 2013, không có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm cơ sở để thu tiền sử dụng đất.
- Vì vậy, việc ông Trần Xuân Q và ông Trần Quốc V thu tiền của bà Bùi Thị P1 vào ngày 20/01/2021 với lý do: Tạm thu cấp quyền sử dụng đất chờ quyết định là không có căn cứ và không đúng đối tượng thu tiền.
- - Trình tự xác định, thu nộp tiền sử dụng đất: Giả sử trường hợp bà Bùi Thị P1 đủ điều kiện được giao đất, công nhận quyền sử dụng đất theo quy định thì việc thực hiện phải theo quy định tại Điều 14 Nghị Định 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ quy định về thu tiền sử dụng đất và Điều 9 Thông tư 76/2014/NĐ-CP ngày 16/6/2024 của Bộ T9 quy định về trình tự xác định, thu nộp tiền sử dụng đất.
- Do đó, việc ông Trần Xuân Q và ông Trần Quốc V thu số tiền 600.000.000 đồng của bà Bùi Thị P1 vào ngày 20/01/2021 với lý do: Tạm thu cấp quyền sử dụng đất chờ quyết định, là không có cơ sở vì không có diện tích đất hay giá đất để làm cơ sở tính ra số tiền phải thu. Việc thu tiền của ông Trần Xuân Q và ông Trần Quốc V cũng không được cơ quan có thẩm quyền uỷ quyền.
- Từ những căn cứ trên có thể xác định: Hành vi của ông Trần Xuân Q và Trần Quốc V thu tiền của bà Bùi Thị P1 vào ngày 20/01/2021 với lý do: Tạm thu cấp quyền sử dụng đất chờ quyết định là vi phạm quy định của pháp luật đất đai.
- - Hậu quả thiệt hại: Đối với nội dung này Tổ Giám định tư pháp Sở T không đủ năng lực để xác định Hành vi của ông Trần Xuân Q và Trần Quốc V gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức nào? Thiệt hại bao nhiêu tiền? Vì vậy Tổ Giám định từ chối giám định theo qui định tại Khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giám định Tư pháp năm 2020.”
+ Giám định tại Sở Tài chính:
Cơ quan CSĐT Công an huyện S ra Quyết định trưng cầu giám định, Sở Tài chính tỉnh V có văn bản số 06-2024/KL-GĐTC ngày 10/9/2024, kết luận:
- - Hành vi của ông Trần Xuân Q và Trần Quốc V thu tiền của bà Bùi Thị P1 vào ngày 20/01/2021 với lý do: Tạm thu cấp quyền sử dụng đất chờ quyết định đã được giám định viên tư pháp lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường kết luận tại Kết luận giám định số 60/KL-GĐTT ngày 09/9/2024.
- - Vi phạm quy định trong lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường đã được giám định viên tư pháp lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường kết luận tại Kết luận giám định số 60 /KL-GĐTT ngày 09/9/2024.
- - Vi phạm trong lĩnh vực Ngân sách nhà nước. Cụ thể vi phạm Khoản 2 Điều 18 Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015: “2. Thu sai quy định của các luật thuế và quy định khác của pháp luật về thu ngân sách; phân chia sai quy định nguồn thu giữa ngân sách các cấp; giữ lại nguồn thu của ngân sách nhà nước sai chế độ; tự đặt ra các khoản thu trái với quy định của pháp luật.”
- - Vi phạm trong lĩnh vực Kế toán. Cụ thể:
- + Vi phạm Yêu cầu kế toán tại Khoản 1 Điều 5 Luật Kế toán 2015: “1. Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính.”
- + Vi phạm Nguyên tắc kế toán tại Khoản 3 Điều 6 Luật Kế toán 2015: “3. Đơn vị kế toán phải thu thập, phản ánh khách quan, đầy đủ, đúng thực tế và đúng kỳ kế toán mà nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh.”
- + Vi phạm Khoản 3 Điều 13 Luật Kế toán 2015: “3. Để ngoài sổ kế toán tài sản, nợ phải trả của đơn vị kế toán hoặc có liên quan đến đơn vị kế toán.”
- - Hành vi của ông Trần Xuân Q và Trần Quốc V chi cho các hoạt động của ban ngành đoàn thể, cá nhân (sử dụng tiền thu của bà Bùi Thị P1) là hành vi vi phạm quy định của pháp luật do tiền thu không đúng quy định pháp luật như đã nêu trên và việc chi không “Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính” theo quy đinh tại Khoản 1 Điều 5 Luật Kế toán 2015.
- - Hậu quả: Hành vi của ông Trần Xuân Q và Trần Quốc V gây thiệt hại cho cá nhân bà Bùi Thị P1 với số tiền là 600.000.000 đồng.
- Xác minh tại UBND xã Đ thể hiện không có cuộc họp nào Ban Thường vụ Đảng ủy và Ban chấp hành xã có nội dung thu tiền sử dụng đất của bà Bùi Thị P1 để chi cho các haotj động của UBND, Đảng ủy xã Đ. Trong thời gian Trần Xuân Q giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã Đ (từ tháng 11/2019 đến năm 2022), UBND xã Đ không được cấp có thẩm quyền, ủy quyền để thu tiền sử dụng đất ở chờ quyết định của hộ gia đình, cá nhân nào.
- Xác minh tại Văn phòng Đ3 và Phòng Tài nguyên Môi trường huyện S xác định từ trước đến nay các đơn vị này không tiếp nhận hồ sơ xin chuyển đổi mục đích sử dụng diện tích đất 80m² tại khu Đ thuộc thôn C, xã Đ, huyện S thành đất ở của bà Bùi Thị P1.
- Xác minh tại Kho bạc Nhà nước và Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện S xác định: Năm 2021, UBND xã Đ không nộp khoản tiền nào 600.000.000đ từ hoạt động thu tiền đất của bà Bùi Thị P1 vào Kho bạc huyện S; năm 2020 - 2021, UBND xã Đ thực hiện thu - chi - quyết toán ngân sách với Kho bạc Nhà nước và Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện S đảm bảo theo đúng các mục lục Ngân sách nhà nước được cấp.
* Về vật chứng thu giữ:
- - Mẫu vật hoàn lại sau giám định là Phiếu thu số 03 ngày 20/01/2021; các quyển sổ tay và chứng từ thu - chi kế toán của UBND xã Đ năm 2020 + 2021.
* Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, các bị cáo Trần Xuân Q và Trần Quốc V đã tự nguyện bồi thường cho bà Bùi Thị P1 tổng số tiền 701.000.000đ (trong đó tiền gốc là 600.000.000đ và lãi 101.000.000đ) ngày 23/7/2024. Đến nay bà P1 không yêu cầu các bị cáo phải thanh toán khoản tiền gì khác.
- Đối với số tiền 617.447.000đ, Trần Xuân Q và Trần Quốc V đã tạm ứng chi cho các hoạt động của UBND xã Đ đến nay các bị cáo không đề nghị gì về khoản tiền này.
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2025/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Trần Xuân Q và Trần Quốc V phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”.
Căn cứ khoản 3 Điều 357; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 58; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Xử phạt bị cáo Trần Xuân Q 06 (S2) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Trần Quốc V 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/9/2025 bị cáo Trần Xuân Q kháng cáo đề nghị Hủy Bản án sơ thẩm vì xét xử không đúng quy định của pháp luật; ngày 04/9/2025, bị cáo Trần Quốc V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo; ngày 08/9/2025 bị hại Bùi Thị P1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, đề nghị xem xét tư cách tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trần Xuân Q cho rằng hành vi do bị cáo thực hiện phạm vào tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” nên thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử bị cáo về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” và xin giảm hình phạt; còn bị cáo Trần Quốc V và bị hại Bùi Thị P1 giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Bùi Thị P1, chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Xuân Q và chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Trần Quốc V. Xử phạt bị cáo Trần Xuân Q từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”; xử phạt bị cáo Trần Quốc V 03 năm tù về tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ” cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Trần Xuân Q, Trần Quốc V và bị hại Bùi Thị P1 trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét, giải quyết.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S, Điều tra viên; VKSND huyện Sông Lô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Về nội dung: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Trần Xuân Q, Trần Quốc V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với kết luận giám định của cơ quan chuyên môn; lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Xuất phát từ mục đích muốn củng cố địa vị, uy tín, quyền lực cá nhân khi xã Đ đang tổ chức sắp xếp nhân sự cho Đại hội nhiệm kỳ 2021 - 2026, do thời điểm này giáp tết Nguyên đán 2021 và Ngân sách không đủ chi cho các hoạt động của UBND xã nên Trần Xuân Q đã chỉ đạo Trần Quốc V - Thủ quỹ UBND xã vay tiền của các cá nhân để chi cho các hoạt động của xã, V đã ứng một phần tiền cá nhân để chi vẫn không đủ. Trần Xuân Q biết rõ gia đình bà Bùi Thị P1 đang sử dụng thửa đất ở sứ đồng Đ, thôn C, xã Đ, huyện S muốn được cấp quyền sử dụng đối với thửa đất này. Vì vậy, Trần Xuân Q lợi dụng chức vụ là Chủ tịch UBND xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ đạo Trần Quốc V cán bộ Thủ quỹ UBND xã thu tiền đất trái quy định của bà Bùi Thị P1 với số tiền 600.000.000đ để sử dụng chi tiêu vào các hoạt động của UBND xã Đ dẫn đến mất khả năng thanh toán, gây thiệt hại cho bà P1 số tiền 600.000.000đ. Quá trình thu và sử dụng số tiền 600.000.000đ trên Trần Xuân Q và Trần Quốc V không báo cáo gì với Đảng uỷ, UBND xã, không kê khai, hạch toán vào Ngân sách nhà nước mà sử dụng chi cho các hoạt động của các ban ngành, đoàn thể, chi đền bù thu hồi đất và cá nhân; từng khoản chi được Việt ghi chép riêng vào sổ tay cá nhân chỉ có chữ ký xác nhận của những người nhận tiền. Quá trình giải quyết vụ án các bị cáo Trần Xuân Q và Trần Quốc V đã tự nguyện bồi thường khắc phục cho bà Bùi Thị P1 toàn bộ số tiền trên. Sau khi nhận tiền bồi thường, bị hại Bùi Thị P1 có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo Trần Xuân Q và Trần Quốc V.
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo Trần Xuân Q, Trần Quốc V tại phiên tòa và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo về tội "Lạm quyền hạn trong khi thi hành công vụ" theo khoản 3 Điều 357 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội không oan sai.
Về tính chất của vụ án là tội phạm rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước được pháp luật bảo vệ, gây mất uy tín, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cán bộ đảng viên là người được giao nhiệm vụ thực thi nhiệm vụ trong hoạt động công vụ. Do vậy cần xử lý nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung, phục vụ tốt nhiệm vụ giữ vững an ninh trật tự tại địa phương và làm gương cho người khác.
[4]. Xét về kháng cáo của bị cáo Trần Xuân Q; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Trong vụ án này, Trần Xuân Q là Chủ tịch UBND xã Đ, không thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ được giao, chỉ đạo Trần Quốc V thu và sử dụng tiền của bà P1 không đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết hợp với việc xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa để xét xử bị cáo Trần Xuân Q về tội "Lạm quyền hạn trong khi thi hành công vụ" theo Điều 357 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội không oan sai. Do vậy, việc bị cáo Trần Xuân Q cho rằng hành vi do bị cáo thực hiện phạm vào tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” là không có cơ sở nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện tội phạm; căn cứ vào nhân thân của bị cáo; hậu quả xảy ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo hình phạt 06 năm tù là có căn cứ phù hợp quy định của pháp luật, tương xứng với hành vi do bị cáo thực hiện. Xét thấy các tội phạm do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hiện nay ngày càng diễn biến phức tạp, gây nhiều hậu quả xấu cho xã hội, làm mất uy tín, giảm lòng tin của nhân dân đối với chính sách của Đảng, nhà nước đề ra nên cần xử phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nhận thức rõ ràng hành vi phạm tội của bản thân, thực sự tỏ ra ăn năn hối cải mong muốn được có cơ hội sửa chữa lỗi lầm; còn bị hại Bùi Thị P1 tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các căn cứ để Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Xét thấy, bị cáo Trần Xuân Q được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào theo quy định của pháp luật nên hình phạt 06 năm tù do Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng là có phần nghiêm khắc. Vì vậy, Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt tù đối với bị cáo cho phù hợp quy định của pháp luật và đây cũng là cơ hội để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm hoàn lương.
[5]. Xét về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Trần Quốc V; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Trong vụ án này, bị cáo Trần Quốc V là thủ quỹ UBND xã Đ có nhiệm vụ chi tiền ngân sách nhà nước đúng các khoản do pháp luật quy định, tuy nhiên bị cáo thực hiện không đúng chức trách, nhiệm vụ của thủ quỹ, bị cáo chấp hành sự chỉ đạo của Trần Xuân Q là Chủ tịch UBND xã Đ thu tiền của bị hại trái pháp luật rồi sử dụng số tiền này không đúng quy định của pháp luật nên là đồng phạm có vai trò trực tiếp thực hiện tội phạm. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện tội phạm; căn cứ vào nhân thân của bị cáo; vai trò, vị trí của bị cáo trong vụ án và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 05 năm tù là tương xứng với hành vi do bị cáo thực hiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Quốc V đã nhận thức rõ hành vi thực hiện là vi phạm pháp luật, bị cáo khai báo thành khẩn và thực sự tỏ ra ăn năn hối cải; Quá trình giải quyết phúc thẩm bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện có đóng góp tiền ủng hộ quỹ vì người nghèo; quá trình công tác được tặng thưởng nhiều giấy khen; bản thân hiện nay gia đình bị cáo phải thờ cúng liệt sỹ và tại phiên tòa phúc thẩm bị hại tha thiết đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin cho bị cáo V cải tạo ngoài xã hội. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới để Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Xét về vị trí, vai trò của bị cáo Trần Quốc V trong vụ án chỉ là thứ yếu, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày bản thân mặc dù là thủ quỹ nhưng không được đào tạo về chuyên môn đầy đủ nên khi được Trần Xuân Q là Chủ tịch UBND xã chỉ đạo sao thì thực hiện như vậy, bị cáo chỉ nghĩ chỉ đơn thuần là thủ quỹ thì thu chi theo sự chỉ đạo của Chủ tịch nên chấp hành mà không lường hết hậu quả xảy ra. Xét thấy bị cáo Trần Quốc V là người có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, lần đầu phạm tội; đã nhận thức rõ ràng, đầy đủ hành vi vi phạm pháp luật của bản thân, thực sự tỏ ra ăn năn hối cải được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào, tham gia thực hiện tội phạm với vai trò thứ yếu nên việc cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục riêng, không ảnh hưởng tới việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, không trái với hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo của bị cáo là phù hợp.
[6]. Xét kháng cáo của bị hại Bùi Thị P1; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Về nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Trần Xuân Q, Trần Quốc V đã được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận như nhận định trong nội dung kháng cáo của các bị cáo.
Về nội dung kháng cáo các cơ quan tố tụng xác định bị hại trong vụ án là không phù hợp quy định của pháp luật thấy rằng: Theo quy định của Luật Đất đai thì UBND cấp xã không có thẩm quyền cấp GCN. Tuy nhiên, bị cáo Trần Xuân Q đã lợi dụng chức vụ là Chủ tịch UBND xã Đ để thu tiền của bà P1 rồi hứa hẹn sẽ cấp GCN theo yêu cầu của bà P1. Sau khi thu được tiền, bị cáo Trần Xuân Q đã sử dụng tiền thu của bà P1 trái quy định của pháp luật nên không cấp được GCN trả cho bà P1. Vì vậy, các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm xác định bà Bùi Thị P1 là bị hại trong vụ án là phù hợp quy định của pháp luật nên kháng cáo của bà P1 không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị P1 về tư cách tham gia tố tụng; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Xuân Q và chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo của bị cáo Trần Quốc V là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo về tư cách tham gia tố tụng của bà Bùi Thị P1; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Xuân Q và chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị cáo Trần Quốc V; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11- Phú Thọ.
Tuyên bố các bị cáo Trần Xuân Q và Trần Quốc V phạm tội “Lạm quyền trong khi thi hành công vụ”.
Căn cứ khoản 3 Điều 357; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Xuân Q 05 (Năm) năm tù về tội “Lạm quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Căn cứ khoản 3 Điều 357; điểm b, s, x khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Quốc V 03 (Ba) năm tù về tội “Lạm quyền hạn trong khi thi hành công vụ” cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Trần Quốc V cho Ủy ban nhân dân xã S, tỉnh Phú Thọ theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo Trần Quốc V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Các bị cáo Trần Xuân Q và bị cáo Trần Quốc V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Sơn |
13
Bản án số 137/2025/HS-PT ngày 19/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm (về tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ)
- Số bản án: 137/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (về tội Lạm quyền trong khi thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Xuân Quý và đồng phạm phạm tội Lạm quyền trong khi thi hành công vụ
