Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2025/DS-PT

Ngày 12 tháng 6 năm 2025

V/v “Tranh chấp đòi tài sản quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: ông Lâm Thuận Tùng
  • - Các Thẩm phán: ông Lại Hiệp Phong và ông Đào chí Keo.
  • - Thư ký phiên tòa: ông Bùi Hữu Phước - Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: ông Dương Quy Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 278/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2025/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 90/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng 3 năm 2025; Thông báo mở lại phiên tòa số 35/2025/QĐPT-DS ngày 16 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 169 ngày 29/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Việt C, sinh năm 1965. Địa chỉ: số F khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông C: ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1983; địa chỉ khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

  3. Bị đơn: ông Lê Hồng T1, sinh năm 1964, bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1959. Cùng địa chỉ: số D (số cũ 43bis) đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Địa chỉ tạm trú: Lô B, đường C, tổ C, khóm G, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  4. Người đại diện ủy quyền của ông T1, bà N: ông Ngô Nam T2. sinh năm 1953, Địa chỉ: khóm Đ phường M, thành phố L.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ủy ban nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang. Địa chỉ: số I đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có dơn yêu cầu vắng mặt);

3.2. Bà Lê Thị Thùy T3, sinh năm 1985; (con ông T1 và bà N);

3.3. Bà Lê Thị Thùy D, sinh năm 1987; (con ông T1 và bà N);

3.4. Ông Lê Quang S, sinh năm 1989; (con ông T1 và bà N);

3.5. Bà Lê Thị Trang Đ, sinh năm 1991; (con ông T1 và bà N);

3.6. Bà Lê Thị Anh Đ1, sinh năm 1993. (con ông T1 và bà N);

3.7. Em Phùng Thế A, sinh năm 2017 (con bà Đ1);

3.8. Dương Quang T4, sinh năm 2017 (con bà D);

3.9. Dương Ngọc Á, sinh năm 2019 (con bà D);

3.10. Em Nguyễn Đăng K, sinh năm 2021 (con bà T3);

3.11. Em Lê Thị Thanh T5, sinh năm 2016 (con bà Đ);

3.12. Em Lê Thanh N1, sinh năm 2019 (con của Đ).

Cùng địa chỉ: số D đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Địa chỉ tạm trú: Lô B, đường C, tổ C, khóm G, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

3.13. Ban Quản lý dự án Đầu tư Xây dựng Khu vực thành phố L;

Địa chỉ: số I đường N, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có đơn yêu cầu vắng mặt);

3.14. ông Nguyễn Hữu T6, sinh năm 1973;

3.15. Bà Nguyễn Thị Mộng Đ2, sinh năm 1980.

Cùng địa chỉ: số C đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền cho bà Đ2: ông Nguyễn Hữu T6, sinh năm 1973. Địa chỉ: số C đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Theo giấy ủy quyền số 8619, ngày 25/12/2024 do Văn phòng C1 chứng nhận.

Tại phiên tòa, có mặt ông T, ông T1, bà N, ông N2, ông T6.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo hồ sơ án sơ thẩm:

Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Việt C trình bày:

Trước năm 1990, ông Nguyễn Việt C trú tại đường L, phường M, thị xã L, tỉnh An Giang. Đến năm 1993, Nhà nước quy hoạch đô thị, nâng thị xã lên thành phố L nên di dời toàn bộ nhà, đất của ông; mở rộng đường L - khu N.

Ngày 27/07/1999, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố L ban hành Quyết định số 626/QĐ.UB giải tỏa, di dời nhà ở, vật kiến trúc khác của các hộ dân cư ngụ trong phạm vi quy hoạch sắp xếp dân cư. Trong đó, giải quyết cho ông C mua 01 nền tái định cư và ký kết hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ) ngày 06/03/2003 giữa ông C với Ban quản lý dự án các khu dân cư thành phố L thuộc lô số 02-A6 đường C, diện tích 4,5m x 15m = 67,5m² giá trị nền nhà 87.750.000đ, ông C đã thanh toán tiền và nhận nền.

Do chưa sử dụng, đất để trống nên hộ ông Lê Hồng T1, bà Huỳnh Thị N tự ý xây dựng căn nhà, lấn chiếm phần diện tích 67,5m². Nhiều lần ông C yêu cầu di dời nhưng ông T1 bà N không đồng ý nên ông C khởi kiện yêu cầu ông T1 bà N cùng có trách nhiệm di dời tất cả tài sản, công trình kiến trúc trên đất trả lại 67,5m². Do nền có diện tích thực tế là 72m² nên ông C khởi kiện bổ sung yêu cầu ông T1, bà N cùng các con cháu gồm: T3, D, S, Đ, Đ1, A, T4, Á, K, T5, N1 liên đới trách nhiệm di dời tất cả tài sản, công trình kiến trúc trả phần diện tích 72m² (đo đạc thực tế 71,7m², có sai số tỉ lệ ít) cho ông C quản lý, sử dụng.

Bị đơn ông Lê Hồng T1 và bà Huỳnh Thị N trình bày: Năm 1990, ông bà cư trú tại thị xã L; đến năm 1993 thực hiện chủ trương quy hoạch, giải tỏa khu Nhà văn hóa - thuộc phường M, thành phố L nên di dời nhà, đất. Đổi lại, Nhà nước giải quyết cho mua 2 nền nhà. Trong đó, bà N mua 1 nền tại đường L, phường M, thành phố L, nhưng đã chuyển nhượng cho người khác. Riêng ông T1 mua 1 nền tại Lô C (nền góc), đường C, phường M và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hiện đang cho thuê mặt bằng từ năm 2021).

Đối với nền lô 02-A6, ông T1, bà N cho rằng vẫn còn quyền sở hữu 26,4m² do chưa nhận bồi hoàn. Diện tích đất tranh chấp theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh L lập ngày 12/06/2024 (gọi tắt là Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 12/06/2024). Trong đó; 26,4m² thể hiện tại các điểm 46, 15, 35, 34, 42, 45 và 9,2m² thể hiện tại các điểm 43, 15, 35, 34, 42 của nền nhà cũ chưa được giải quyết nên không đồng ý trả nền theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, đề nghị cho ông, bà được tiếp tục mua thêm diện tích 55m² thể hiện tại các điểm 13, 14, 46, 45 (theo bản trích đo nêu trên). Hiện trạng trên nền lô 02-A6 bị đơn đã xây cất căn nhà tường và gác diện tích ngang 4,5m, dài 15. Riêng nền lô 03-A6 cặp với lô 02-A6, kết cấu 1 trệt, 2 lầu, có lối đi phía sau thông với nhau, hiện ông, bà xây nhà trọ, đang cho thuê để nuôi sống gia đình. Ông T1 bà N yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho mua thêm phần diện tích 55 m² của nền lô 02-A6, với giá mỗi mét vuông là 11.700.000đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

UBND thành phố L trình bày tại công văn số 3168/UBND-NC, ngày 17/04/2024: Do điều kiện công tác, chủ tịch UBND thành phố L không tham gia quá trình tố tụng tại Tòa án, xin được phép vắng mặt trong toàn bộ các phiên họp, phiên xử tại Tòa án các cấp. Chủ tịch UBND thành phố L chịu trách nhiệm bởi sự vắng mặt và đồng ý thực hiện theo nội dung bản án đã có hiệu lực pháp luật.

Ban Q khu vực thành phố L trình bày tại công văn số 01/BQLDA-VP, ngày 02/01/2025; số 103/BQLDA-VP, ngày 20/01/2025, yêu cầu vắng mặt phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, yêu cầu vắng mặt tại phiên tòa. Yêu cầu Tòa án căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.

Ông Nguyễn Hữu T6 và bà Nguyễn Thị Mộng Đ2 trình bày: Vợ chồng ông bà có thửa đất số 381, tờ bản đồ số 27 (liền ranh với nền lô 2A-6), tọa lạc tại khóm G, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, diện tích 72m². Quá trình tranh chấp giữa ông C và ông T1 khi đo đạc xác định mốc ranh phần đất tranh chấp đã lấn chiếm qua phần đất thuộc quyền sử dụng của ông bà 0,5m². Do đó, ông T6 có yêu cầu ông T1 hoặc ông C, ai là người được quyền sử dụng đất phải trả lại cho ông quyền sử dụng diện tích đất 0,5m². Ông T6 không đưa ra yêu cầu độc lập đối với tranh chấp giữa ông C, với ông T1, bà N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 39/2025/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử:

  • - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt C đối với ông Lê Hồng T1, bà Huỳnh Thị N.
  • + Buộc ông Lê Hồng T1, bà Huỳnh Thị N cùng với bà Lê Thị Thùy T3, bà Lê Thị Thùy D, ông Lê Quang S, bà Lê Thị Trang Đ, bà Lê Thị Anh Đ1, em Phùng Thế A, em Dương Quang T4, em Dương Ngọc Á, em Nguyễn Đăng K, em Lê Thị Thanh T5, em Lê Thanh N1, liên đới trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Việt C phần diện tích đất đã lấn chiếm 71,7m², theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 12/06/2024. Đất tọa lạc tại lô B đường C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Đồng thời, xác định quyền lưu cư trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • + Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Việt C hoàn lại giá trị căn nhà cho ông Lê Hồng T1, bà Huỳnh Thị N số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).

Ngoài ra còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20 tháng 01 năm 2025 ông T1, bà N kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.

Quá trình xét xử phúc thẩm, đại diện bị đơn có đơn yêu cầu Hội đồng xét xử tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ hiện trạng đất tranh chấp.

Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 08 tháng 5 năm 2025, các đương sự thống nhất kết quả đo đạc, định giá, không yêu cầu gì khác.

Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm,

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện bị đơn kháng cáo trình bày: Không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C đòi quyền sử dụng phần diện tích đất 71,7m². Phần diện tích đất 26,4m² tại nền lô 02-A6 của ông bà chưa được nhà nước giải quyết bồi hoàn nên yêu cầu tiếp tục sử dụng; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu phản tố, giải quyết cho ông bà được tiếp tục sử dụng diện tích 55m², ông bà xin mua với giá 11.700.000đ/m². Nếu yêu cầu xin mua thêm không được Tòa án chấp nhận, ông bà đồng ý tháo dỡ phần xây cất trên diện tích 55m² ở phía sau trả cho ông C. Tuy nhiên, ông, bà yêu cầu tiếp tục sử dụng phần diện tích còn lại 26,4m² tại lô 02-A6 ở phía trước.

Đại diện nguyên đơn trình bày: Sự việc xảy ra đã lâu, phía ông C cũng có nhà bị giải tỏa giống như bị đơn, được hỗ trợ mua lại 01 nền nhà giá linh hoạt (giá thấp hơn giá thị trường); nguyên đơn đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền mua nền nhà lần đầu là 87.750.000 đồng, lần bổ sung là 5.850.000 đồng. Ông đã được Ban quản lý dự án giao nền. Ông được mua nền giá linh hoạt giống như bị đơn được mua và bao người khác trong diện giải tỏa mở rộng, chỉnh trang đô thị. Tuy nhiên, do điều kiện làm ăn xa ông chưa thể cất nhà, thời gian đó ông T1, bà N tự ý xây cất nhà trên nền lô 02-A6 của ông. Nhiều lần ông khiếu nại đến các cấp chính quyền yêu cầu ông T1, bà N tháo dỡ nhà trả ông quyền sử dụng đất nhưng không đạt kết quả. Nay ông khởi kiện đòi quyền sử dụng diện tích 72m² (đo đạc thực tế 71,7m²), yêu cầu ông T1, bà N tháo dỡ toàn bộ căn nhà, ông tự nguyện hỗ trợ ông T1, bà N tháo dỡ di dời số tiền 200.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

  • - Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và các đương sự là đúng quy định của pháp luật;
  • - Về nội dung: Chứng cứ trong hồ sơ xác định nguyên đơn có đầy đủ giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất hợp lệ, hợp pháp. Việc bị đơn chiếm dụng diện tích đất 72m² (đo đạc thực tế 71,7m²) thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn là trái pháp luật. Cấp sơ thẩm căn cứ vào quy định pháp luật, buộc ông T1, bà N cùng các con, cháu tháo dỡ di dời nhà, trả lại quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không nêu tình tiết nào để xem xét, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến trình bày của đương sự, của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    • - Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền xét xử như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là hoàn toàn đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
    • - Về quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo: Bị đơn ông T1, bà N kháng cáo đã đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
    • - Tại phiên tòa phúc thẩm, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được triệu tấp nhiều lần vắng mặt; một số người có đơn đề nghị xử vắng mặt, căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  2. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
    • [2.1] Các bên thống nhất phần đất tranh chấp tại lô B, đường C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, có diện tích 71,7m² theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh L lập ngày 12/6/2024. Do đó, cấp sơ thẩm căn cứ diện tích đo đạc theo Bản vẽ nêu trên để làm cơ sở giải quyết vụ án là có căn cứ.
    • [2.2] Về nguồn gốc đất:

Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đối với diện tích 71,7m²:

Ngày 27/7/1999 Ủy ban nhân dân thành phố L ban hành quyết định số 626/QĐ-UB về việc giải tỏa di dời nhà ở để sắp xếp dân cư đường L - thuộc phường M, thành phố L. Trong đó, quyết định yêu cầu ông Nguyễn Việt C phải tháo dỡ, di dời căn nhà và vật kiến trúc có diện tích 19,8m² nằm trong phần đất 32,78m², đồng thời bồi hoàn và giải quyết cho ông C mua 01 nền nhà để tái định cư. Ngày 06/3/2003 ông C và Ban quản lý dự án các khu dân cư thành phố L ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc lô 02-A6, diện tích 4,5m x 15m = 67,5m² tại đường C với giá nhận chuyển nhượng 87.750.000đ; ông C đã thanh toán đủ, Sau đó, ngày 24/07/2015 ông C và Ban Quản lý dự án Đầu tư xây dựng thành phố L tiếp tục ký kết phụ kiện hợp đồng số 3416A/PKHĐ-CNQSDĐ, điều chỉnh lại phần diện tích chuyển nhượng cho ông C lô B đường C, diện tích 4,5m x 16m = 72m², giá trị 93.600.000đ; và yêu cầu ông C nộp bổ sung 5.850.000đ, ông C đã nộp xong. Ngày 28/9/2015 Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng thành phố L và ông C tiến hành đo đạc cấm mốc vị trí giao đất cho ông C theo Biên bản giao nhận đất ngày 28/9/2015.

Bị đơn trình bày đang còn quyền sử dụng diện tích 26,4m², cho rằng Ban quản lý dự án chưa thỏa thuận đền bù nên còn quyền tiếp tục sử dụng. Do thấy nền để trống không ai sử dụng nên chiếm đất xây dựng nhà, nay xin được hóa giá theo giá 11.700.000đ/m².

Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh L lập ngày 12/6/2024, phần nhà bếp của ông T1, bà N có diện tích 26,4m² tại các điểm 46, 15, 35, 42, 45 nằm ngoài phạm vi diện tích đất tranh chấp, do gia đình ông T1 quản lý sử dụng

Xét thấy, ông T1, bà N cho rằng còn quyền sử dụng phần diện tích 26,4m² là điều vô lý. Bởi vì, khi thực hiện giải tỏa đền bù, toàn bộ diện tích 45m² của ông T1, bà N nằm trong khu vực phải di dời, giải tỏa (theo Quyết định 194/QĐ-UBND ngày 30/11/2007 của Ủy ban nhân dân thành phố L đã thu hồi toàn bộ khu đất). Đổi lại, để tạo điều kiện ổn định chỗ ở mới, Ban quản lý dự án đã thỏa thuận giải quyết bán lại cho ông, bà 02 nền nhà (nền nhà số A đường P, phường M diện tích 56m² và nền nhà lô C đường C diện tích 72m²) theo giá “linh hoạt”, tức đã có lợi nhiều cho ông, bà hơn so với khi chưa giải tỏa. Thực tế, ông T1, bà N đã bán 01 nền, dùng tiền đó xây cất căn nhà để cho thuê. Hiện tại, nếu buộc tháo dỡ di dời trả nền lô 02-A6 cho ông C thì ông T1, bà N cùng các con, cháu vẫn còn căn nhà 1 trệt 2 lầu tại nền lô 03-A6 (liền ranh với nền đang chiếm giữ).

Như vậy, cấp sơ thẩm căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định ông T1, bà N chiếm giữ diện tích 71,7m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông C là trái pháp luật. Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Hồng T1 bà Huỳnh Thị N cùng các con, cháu liên đới trách nhiệm trả lại phần diện tích 71,7m² theo bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh L lập ngày 12/6/2024. Đồng thời, ghi nhận sự tự nguyện của ông C bồi thường cho ông T1, bà N giá trị căn nhà 200.000.000đ; giao trả phần đất lấn chiếm 0,5m² cho ông T6, bà Đ2; và ấn định thời gian lưu cư 6 tháng như Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T1 không nêu căn cứ nào chứng minh yêu cầu kháng cáo; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tại phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo. Vì vây, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1, bà N.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn xác định nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn tháo dỡ di dời toàn bộ căn nhà và tự nguyện hỗ trợ cho bị đơn số tiền 200.000.000 đồng. Án sơ thẩm chưa nhận định phần diện tích phải tháo dỡ vật kiến trúc, kết cấu, diện tích cụ thể là bao nhiêu. Do đó, Hội đồng xét xử xác định nguyên đơn yêu cầu bị đơn tháo dỡ, di dời toàn bộ căn nhà trả lại cho nguyên đơn diện tích 71,7m² tại các điểm 13, 14, 15, 35, 34, 42 theo Bản trích đo hiện trạng 12/6/2024 do Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh L, sửa về cách tuyên của bản án sơ thẩm.

  1. Về chi phí tố tụng: Tại phiên tòa nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ giai đoạn phúc thẩm nên Hội đồng xét xử không đề cập.
  2. Về án phí: Bị đơn là người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hồng T1, bà Huỳnh Thị N. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 39/2025/DS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt C đối với ông Lê Hồng T1, bà Huỳnh Thị N.
  • + Buộc ông Lê Hồng T1, bà Huỳnh Thị N cùng với bà Lê Thị Thùy T3, bà Lê Thị Thùy D, ông Lê Quang S, bà Lê Thị Trang Đ, bà Lê Thị Anh Đ1, em Phùng Thế A, em Dương Quang T4, em Dương Ngọc Á, em Nguyễn Đăng K, em Lê Thị Thanh T5, em Lê Thanh N1 có trách nhiệm tháo dỡ, di dời nhà, vật kiến trúc trả cho ông Nguyễn Việt C phần diện tích đất 71,7m² tại các điểm 13, 14, 15, 35, 34, 42 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 12/6/2024. Đất tọa lạc tại lô B đường C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • + Thời hạn lưu cư của bị đơn (cùng các con, cháu có tên nêu trên) là 06 (Sáu) tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • + Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Việt C hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời cho ông Lê Hồng T1, bà Huỳnh Thị N số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng).
  • + Thời gian, phương thức thanh toán thực hiện tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  • + Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền.
  • + Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Việt C trả cho ông Nguyễn Hữu T6, bà Nguyễn Thị Mộng Đ2 phần diện tích đất đã lấn chiếm 0,5m² thể hiện tại các điểm 14, 43, 44 (theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 12/6/2024). Đất tọa lạc tại đường C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • - Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt C đối với ông Lê Hồng T1, bà Huỳnh Thị N về yêu cầu trả phần diện tích 0,3m² (72m² - 71,7m²).
  • - Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Hồng T1, bà Huỳnh Thị N về việc yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết cho ông bà mua lại phần diện tích 55.0m² với giá quy định của nhà nước là 11.700.000đ/1m².

(Các số liệu của phần diện tích đất tranh chấp theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh L lập ngày 12/06/2024)

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn không phải chịu.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TỌA

Lâm Thuận Tùng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

L1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2025/DS-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp đòi tài sản quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 137/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger