TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03/4/2025
V/v: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Nguyễn Đức Hải
2. Ông Phùng Văn Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Ông Vũ Trường Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 03/4/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Long Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 471/2024/TLST-HNGĐ ngày 05/12/2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/02/2025 và Quyết định Hoãn phiên toà số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị B, sinh năm 1984
HKTT: thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội
Nơi ở: 12A07 chung cư B, số I phố Đ, phường Đ, quận L, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1982
HKTT: thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội
Nơi ở: P.806-CT1-NO8 phố M, phường G, quận L, thành phố Hà Nội.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Đỗ Thị B trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị B và ông Lê Văn T tự nguyện tìm hiểu, yêu nhau và đăng ký kết hôn 19/12/2008 tại UBND xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ hạnh phúc được khoảng mấy năm đầu, đến 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn mà nguyên nhân chính do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đặc biệt là do tình trạng không chung đụng về kinh tế, không nhận được sự chia sẻ từ ông T. Mâu thuẫn căng thẳng kể từ tháng 6/2023 vợ chồng sống ly thân mỗi người ở một nơi, không ai quan tâm đến ai.
Nay tôi xác định không còn tình cảm với ông T, đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Lê Văn T để mỗi người sớm ổn định cuộc sống của mình.
- Về con chung: chúng tôi có hai con chung là Lê Minh H (sinh ngày 01/02/2009) và Lê Minh Đ (sinh ngày 20/8/2012). Trường hợp ly hôn thì tôi mong muốn được nuôi cả hai con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con cho tôi.
- Về tài sản: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Lê Văn T trình bày “tôi thấy nội dung trong đơn hoàn toàn chưa đúng hết những mâu thuẫn của chúng tôi trong thời gian chung sống... Nay bà Đỗ Thị B vì lý do riêng gì đó muốn ly hôn thì hai bên sẽ giải quyết mọi vướng mắt đến gia đình, con cái và cả những tài sản chung... thì chúng tôi sẽ tự thống nhất thoả thuận với nhau xong xuôi sẽ ra Toà làm phiền toà không quá 5 phút...”
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên phát biểu:
+ Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng, đảm bảo quy định của pháp luật trong tất cả các quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa. Về phía các đương sự đều chấp hành nghĩa vụ tố tụng trong quá trình giải quyết.
+ Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Điều 28 Khoản 1 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326 của UBTVQH, quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị B, cho bà B được ly hôn với ông Lê Văn T; giao cháu Lê Minh Đ cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Minh H cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai; tài sản chung không xem xét; bà B có nghĩa vụ nộp án phí DSST không giá ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ly hôn, bị đơn có địa chỉ tại địa bàn quận L, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Long Biên theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị B:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Văn T và bà Đỗ Thị B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 51/2008 ngày 19/12/2008 tại UBND xã D, huyện G, thành phố Hà Nội, đây là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của các đương sự thì có đủ cơ sở xác định giữa bà Đỗ Thị B và ông Lê Văn T có mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân đã lâu, mỗi người ở một nơi và có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau. Ông T không phản đối với quan điểm xin ly hôn của bà B, mặt khác không đến Tòa án để giải quyết vụ án, thể hiện mâu thuẫn đã trầm trọng và không có cơ hội hoà giải, khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà B và ông T là có thật và đã thật sự trầm trọng, cả hai bên đều không thực hiện các nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, có đủ căn cứ để chấp nhận đơn khởi kiện của bà B, cho bà B được ly hôn với ông T là phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: căn cứ hồ sơ vụ án thì bà Đỗ Thị B và ông Lê Văn T có hai con chung là Lê Minh H (sinh ngày 01/02/2009) và Lê Minh Đ (sinh ngày 20/8/2012).
Xét đề nghị của bà B về nguyện vọng được nuôi cả hai con chung, thấy: cả bà B và ông T đều có chỗ ở, công việc và thu nhập ổn định, nguyện vọng của cháu Lê Minh Đ mong muốn được ở với bố, cháu Lê Minh H mong muốn được ở với mẹ nếu trường hợp bố mẹ ly hôn. Xét giao cháu Đ cho ông T, giao cháu H cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp với khả năng của các bên, đảm bảo quyền được nuôi dưỡng con chung của bố, mẹ đồng thời phù hợp với nguyện vọng, mong muốn của con đủ 07 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do mỗi người nuôi một con chung và không ai yêu cầu người còn lại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nên Toà án không xét.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết, vì vậy Toà án không xem xét.
[3] Về án phí, quyền kháng cáo:
- Bà B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, các Điều 227, 228, 266, 273, 275 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56 và các điều 57, 81, 82, 83, 88 và 118 của Luật Hôn nhân và gia đình; Đ1 a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị B được ly hôn với ông Lê Văn T.
- Về con chung: Bà Đỗ Thị B và ông Lê Văn T có hai con chung là Lê Minh Đ (sinh ngày 20/8/2012) và Lê Minh H (sinh ngày 01/02/2009).
Giao cháu Lê Minh Đ cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Giao cháu Lê Minh H cho bà B trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Ông T và bà B không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào và cùng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Đỗ Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0051497 ngày 05/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên. Bà B đã nộp đủ án phí.
- Bà Đỗ Thị B và ông Lê Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hoàng Thùy Dương Ngọc Anh |
Bản án số 137/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 137/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
