Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2025/HS-ST

Ngày: 17/3/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương

  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Vụ

  • 2. Bà Nguyễn Thị Hằng

  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:

  • Bà Trần Minh Phương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

  • Bà Trịnh Thị Thu Lan - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 138/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 146/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1.Ngô Xuân D, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1991; Nơi thường trú: Số nhà A L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở : P, chung cư Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số thẻ CCCD: [...], Nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH ; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Ngô Xuân Đ; Con bà: Phạm Thị H; Vợ: Lê Thị Quỳnh L, sinh năm: 1990; Có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án: Ngày 30/12/2019 Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 2 năm 3 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”( Chấp hành xong án phạt tù ngày 07/02/2021); Ngày 12/11/2021 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 21/6/2024; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/07/2015 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Ngày 18/12/2017 Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”; Ngày 24/6/2019 Công an thành phố T xử phạt hành chính về hành vi “Đánh nhau”.

Tạm giữ hình sự từ ngày 26/10/2024 đến ngày 04/11/2024 chuyển tạm giam.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an T.

2. Nguyễn Kiên T, Sinh năm 1984; Nơi cư trú: Số nhà A N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CCCD: [...]; Nơi cấp: Cục C về TTXH; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Mạnh Đ1, Đã chết; Con bà: Tống Thị H1; Vợ: Lê Thị T1 (Đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2009; Tiền án: Ngày 11/02/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong án phạt tù ngày 13/12/2020); Ngày 27/10/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Chấp hành xong án phạt tù ngày 08/06/2023);Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/04/2002 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”.

Tạm giữ từ ngày 25/10/2024 đến ngày 03/11/2024 chuyển tạm giam.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 09 giờ cùng ngày 25/10/2024, Nguyễn Kiên T cất giấu gói nilon màu đen, bên trong chứa 06 viên ma túy hồng phiến (dạng viên nén hình tròn, màu đỏ) vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long để ở túi quần bên phải và đi bộ đến khu vực trước nhà nghỉ E, số A Ỷ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa bán thì bị Tổ công tác Công an thành phố T bắt quả tang. Tại chỗ, T đã tự giác giao nộp số ma túy đang cất giấu trong người và khai nhận mục đích cất giấu ma túy bán kiếm lời. Kiểm tra người Trung, Tổ công tác phát hiện và thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone 8, bên trong gắn thẻ sim. Sau đó, Tổ công tác đưa T cùng tang vật thu giữ được về trụ sở Công an phường Đ, thành phố T để làm việc.

Quá trình điều tra, T khai nhận: Khoảng hơn 8 giờ ngày 25/10/2024, Trung liên lạc từ tài khoản zalo “Trung Tattoo” đến tài khoản Z “Dũng Đen” của Ngô Xuân D hỏi mua ma túy để bán cho khách thì D đồng ý bảo Trung chuyển trước cho D số tiền 500.000đ. T sử dụng tài khoản ngân hàng M số 0396770712 chuyển trước số tiền 500.000đồng vào tài khoản ngân hàng M số 0876476667 của D. Một lúc sau, D đi bộ đến nhà T, đưa cho T 07 gói nilon màu đen bên trong mỗi gói nilon đều chứa 05 viên ma túy hồng phiến và 01 gói nilon màu đen, bên trong chứa 06 viên ma túy hồng phiến. Sau khi nhận được tiền thì D rời đi, còn T cất giấu số ma túy D đưa trong túi áo khoác treo ở trong phòng ngủ của T để khi có ai hỏi mua sẽ bán kiếm lời. Số tiền 500.000 đồng Trung chuyển cho D, D đã rút tiêu xài cá nhân.

Ngày 25/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Kiên T tại số nhà A N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa phát hiện và thu giữ 07 gói nilon màu đen bên trong mỗi gói đều chứa 05 viên nén hình tròn màu đỏ. Nguyễn Kiên T khai nhận đó là số ma túy loại hồng phiến T cất giấu để bán kiếm lời.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Kiên T, ngày 26/10/2024 Cơ quan điều tra làm việc với Ngô Xuân D. Tại Cơ quan điều tra, Ngô Xuân D xin đầu thú về hành vi “mua bán trái phép chất ma túy” và khai nhận: Do bản thân không có công việc ổn định, để có tiền tiêu xài Ngô Xuân D bàn bạc, thống nhất với Nguyễn Kiên T mua bán ma túy để kiếm lời. D là người đưa ma túy (hồng phiến) cho T bán và thu về số tiền 100.000đ/01 viên, còn T bán cho khách giá bao nhiêu là do T tự quyết định và T được hưởng phần tiền bán vượt quá giá 100.000đ/ 1viên. Thông qua mạng xã hội Telegram, D biết một người đàn ông có tài khoản tên “H2” (không biết rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy nên khoảng 17 giờ ngày 10/10/2024, D liên lạc hỏi mua 1 “đàn” ma túy hồng phiến (tương đương 200 viên). Người này đồng ý, báo giá 7.000.000đ và hẹn D đến khu vực bãi đất trống tại cổng Công viên nước thành phố T thuộc phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa để giao ma túy và nhận tiền. D một mình đi đến điểm hẹn, liên lạc qua telegram lại với H2 thì H2 yêu cầu D đặt số tiền 7.000.000đ ở một nắp cống rồi chụp ảnh gửi vị trí đặt tiền cho H2 rồi rời đi. Khi biết D đã đặt tiền, H2 hướng dẫn D đi đến một bụi cây gần đó lấy 01 túi nilon màu xanh, bên trong chứa các viên nén hình tròn màu đỏ, màu xanh (đàn hồng phiến). Sau đó, D cất giấu số ma túy mới mua được vào trong người và đi về phòng 1112 chung cư Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa cất giấu (là nơi ở của D và bạn gái tên Trịnh Thị T2, sinh năm 1998 ở thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa). Khi D về phòng 1112, T2 không có nhà, D lấy túi ma túy hồng phiến mới mua được chia thành 02 túi nilon màu xanh (không kiểm đếm số viên) và 08 gói nilon màu đen (trong đó 07 gói đều chứa 05 viên ma túy hồng phiến, 01 gói chứa 06 viên ma túy hồng phiến) để bán kiếm lời. Đến khoảng hơn 8 giờ ngày 25/10/2024, Trung liên lạc với D hỏi mua ma túy để bán cho khách thì D đồng ý bán cho T.

Ngày 26/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành khám xét khẩn cấp khẩn cấp chỗ ở của Ngô Xuân D tại phòng 1112 Chung cư Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa phát hiện và thu giữ 02 túi nilong màu xanh, kích thước mỗi túi khoảng (5x8)cm, bên trong mỗi túi có chứa các viên nén hình tròn màu đỏ và màu xanh do D cất giấu trên nóc tủ quần áo trong phòng ngủ phía bên phải từ cửa ra vào. Ngô Xuân D khai nhận đó là số ma túy hồng phiến của D cất giấu để bán kiếm lời và việc D mua bán, cất giấu ma túy Trịnh Thị T2 không biết, không liên quan lời.

Tại Bản kết luận giám định số 4117/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:

"Phong bì do Cơ quan CSĐT Công an T phát hành: 06 viên nén hình tròn màu đỏ niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,593g (không phẩy năm chín ba gam), loại Methamphetamine.

Phong bì bắng giấy viền xanh đỏ: 35 viên nén hình tròn màu đỏ niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,394g (ba phẩy ba chín tư gam), loại Methamphetamine.

Phong bì do Cơ quan CSĐT Công an T phát hành mặt trước có ghi “khám xét D":

Các viên nén hình tròn màu đỏ niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 15,415g (một năm phẩy bốn một năm gam), loại Methamphetamine.

Các viên nén hình tròn màu xanh niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,387g (không phẩy ba tám bảy gam), loại Methamphetamine "

Căn cứ lời khai của Ngô Xuân D về nguồn gốc số ma túy: D mua ma túy của người đàn ông tên “Hảo” ngày 10/10/2024 nhưng D không gặp mặt, không biết nhân thân, lai lịch của người này, Công an phường Đ tiến hành rà soát, thu thập thông tin về người đàn ông tên H2 tại khu vực công trường công viên nước phố H, phường Đ nhưng không xác định được đối tượng tên H2, ngoài lời khai của D không có tài liệu xác định người này, vì vậy không có căn cứ để xử lý.

Đối với Trịnh Thị T2 (là bạn gái và hiện ở cùng Ngô Xuân D), DT2 khai nhận T2 không biết, không liên quan đến hành vi mua bán, cất giấu ma túy của D vì vậy không có căn cứ để xử lý .

Quá trình điều tra, Ngô Xuân DNguyễn Kiên T đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập.

Về thu giữ đồ vật, xử lý vật chứng:

  • 01 phong bì niêm phong do Phòng K1 - Công an tỉnh T phát hành chứa mẫu vật (ma túy) hoàn lại sau giám định.

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 8, số IMEI: 353001097915368, bên trong gắn sim thuê bao số 0375718345 là tài sản, phương tiện liên lạc và chuyển tiền mua ma túy của Nguyễn Kiên T.

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12, số IMEI: 351066254800457, bên trong gắn sim thuê bao số 0859181801 là tài sản, phương tiện liên lạc và nhận tiền mua bán ma túy của Ngô Xuân D.

Toàn bộ vật chứng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 71/CT - VKSTPTH ngày 12/ 02/ 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố các bị cáo: Ngô Xuân D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i, q Khoản 2 Điều 251; bị cáo Nguyễn Kiên T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm i, q Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Ngô Xuân D.

Điểm q Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Kiên T.

Đề nghị HĐXX tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Kiên TNgô Xuân D phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Mức hình phạt đại diện VKS đề nghị áp dụng đối với các bị cáo:

  • Ngô Xuân D từ 11 năm đến 11 năm 06 tháng tù.

  • Nguyễn Kiên T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng : Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 02 điện thoại thu giữ của bị cáo Nguyễn Kiên TNgô Xuân D.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Các bị cáo không tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện VKS.

Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.

[ 2] Về hành vi phạm tội:

Khoảng 09 cùng ngày 25/10/2024, khu vực trước nhà nghỉ E, số A Ỷ, phường Đ, thành phố T, Tổ công tác Công an thành phố T bắt quả tang Nguyễn Kiên T có hành vi cất giấu để bán 0,593g (không phẩy năm chín ba gam) loại Methamphetamine. Ngoài ra, khám xét khẩn cấp nơi ở của T, Tổ công tác còn thu giữ 3,394g (ba phẩy ba chín tư gam) loại Methamphetamine Trung cất giấu để bán. Tổng số ma túy T cất giấu là 3,987 gam loại Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời.

Quá trình điều tra, Ngô Xuân D xin đầu thú và khai nhận đã bán cho T 3,987 gam ma túy loại Methamphetamine. Khám xét khẩn cấp nơi ở của D tổ công tác còn thu giữ 15,802g, là ma túy loại methamphetamine. Tổng số ma túy D phải chịu trách nhiệm hình sự là 19,789g gam ma túy loại Methamphetamine.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Ngô Xuân D có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại Điểm i, q Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và hành vi phạm tội nêu trên của và Nguyễn Kiên T có đủ dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại Điểm q Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự ( cả 02 bị cáo đều phải chịu tình tiết định khung “ Tái phạm nguy hiểm”).

Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa, truy tố bị cáo truy tố bị cáo: Ngô Xuân D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm i, q Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Nguyễn Kiên T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm q Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hiện nay tệ nạn ma túy đang là hiểm họa cho toàn xã hội, là nguyên nhân làm suy thoái kinh tế, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý nghiêm.

[4] Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của các bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, do đó các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng Bị cáo Ngô Xuân D đầu thú hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo Ngô Xuân D được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tặng nặng.

[ 5] Về hình phạt: Các bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về nhiều loại tội. Nhưng sau khi chấp hành án xong trở về địa phương, các bị cáo không lấy đó làm bài học để phần đấu trở thành con người lương thiện mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, như vậy chứng tỏ các bị cáo xem thường pháp luật. Do đó căn cứ vào nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì cần giành cho các bị cáo một mức án thật nghiêm khắc và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 phong bì ma túy là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó cần áp dụng Khoản 1, Đ2 a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12, màu đen, số Imel: 351066254800457, điện thoại có gắn kèm sim, thu giữ của Ngô Xuân D và 01 điện thoại di động Iphone 8, màu đen, số Imel: 353001097915368, điện thoại có gắn kèm sim, thu giữ của Nguyễn Kiên T. Điện thoại bị vỡ, mất góc mặt kính sau là phương tiện dùng để liên lạc trao đổi mua bán ma túy. Nên cần áp dụng Khoản 1

Điểm a Khoản 2 Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 500.000đ Nguyễn Kiên Trung chuyển K cho Ngô Xuân D để mua ma túy. Đây là tiền do phạm tội mà có, nên cần áp dụng Khoản 1 Điểm b Khoản 2 Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự truy thu của Ngô Xuân D để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điểm a khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

Điểm i, q Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Ngô Xuân D.

Điểm q Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Kiên T.

Khoản 1, Đ2 a, b Khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ2 a Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Xuân D và bị cáo Nguyễn Kiên T phạm tội“ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

Ngô Xuân D 12 ( Mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/10/2024 (Ngày tạm giữ).

Nguyễn Kiên T 08 năm 03 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/10/2024 (ngày tạm giữ).

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh T, kèm theo chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ3, Hoàng Văn D1.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động Iphone 12, màu đen, số Imel: 351066254800457, điện thoại có gắn kèm sim, thu giữ của Ngô Xuân D và 01 điện thoại di động Iphone 8, màu đen, số Imel: 353001097915368, điện thoại có gắn kèm sim, thu giữ của Nguyễn Kiên T, điện thoại bị vỡ, mất góc mặt kính sau.

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 65/2025/THA ngày 14/ 02/2025 giữa Công an với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Truy thu của Ngô Xuân D 500.000đ tiền ngân hàng N để tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Các bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định tại Điều 7a và Điểu 9 luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu TAND TP. Thanh Hóa.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 137/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Xuân D; Ng. Kiên Tr
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger