TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2025/DS-PT
Ngày: 12-02-2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Các Thẩm phán:
- Bà Trịnh Thị Phúc
- Ông Đinh Tiền Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 621/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 113/2024/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 636/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Bích L, sinh năm 1962.
- Bị đơn:
- Ông Phan Văn B, sinh năm 1962.
- Bà Dương Thị B1, sinh năm 1967.
HKTT: 202 Võ Công T, khu phố A, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ hiện nay: Số C, đường I, khu dân cư Đ, khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Bùi Quang N, sinh năm 1956; địa chỉ: tổ B khu D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Cùng địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông B: Bà Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1954; Địa chỉ: đường số H, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Minh T1, sinh năm 1986;
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1961;
- Văn phòng C.
- Do có kháng cáo của ông Phan Văn B.
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng T3 - Trưởng văn phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 01/3/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị Bích L và người đại diện theo uỷ quyền ông Bùi Quang N trình bày:
Ngày 10/12/2010, vợ chồng ông Phan Văn B, bà Dương Thị B1 với bà Phạm Thị Bích L ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 1045, tờ bản đồ số 07, diện tích 929m², loại đất HNK, toạ lạc tại ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An. Hợp đồng được Văn phòng C, quyển số 5/TP/CC-SCC/HĐGD.
Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì bà L đã giao đủ số tiền 300.000.000 đồng và được nhận bản chính GCNQSDĐ để thực hiện thủ tục sang tên. Tuy nhiên, do chưa có nhu cầu sử dụng đất nên chưa nhận đất và chưa thực hiện thủ tục sang tên.
Ngày 12/9/2011, ông B bà B1 đến gặp bà L xin mượn lại bản chính GCNQSDĐ để cầm cố mua xăng về bán, khi cho mượn lại bản chính thì không thoả thuận về thời hạn trả mà ông B chỉ hứa khi bán xăng có vốn sẽ chuộc lại sổ đỏ để trả lại cho bà L. Tuy nhiên, từ đó đến nay bà L đã nhiều lần yêu cầu ông B trả sổ để tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng nhưng ông B không thực hiện.
Đối với thoả thuận ngày 20/11/2011 ông B cung cấp là do bà L viết để thoả thuận ông B thay bà L trả nợ cho ông H vì ngày 30/8/2010 ông B nhờ bà L vay tiền của ông H số tiền 550.000.000 đồng, bà L viết giấy nợ ông H, ông B viết giấy nợ bà L nên bà L và ông B thoả thuận với ông H là ông B sẽ thay bà L trả nợ cho ông H hoặc sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng sang tên giấy đỏ cho ông H. Khi thoả thuận cấn trừ thì ông H đồng ý nhưng vẫn giữ giấy nợ của bà L và hứa khi nào ông B có tiền trả hoặc sang tên GCNQSDĐ cho ông H thì ông H mới đồng ý trả lại giấy nợ cho bà L. Ngày ký thoả thuận bà L đã trả lại cho ông B giấy nợ giữa ông B với bà L nên không còn để cung cấp cho Toà án. Tuy nhiên, ông B không trả tiền cho ông H và cũng chưa ký hợp đồng sang tên cho ông H nên ông H đã khởi kiện bà L và được Toà án nhân dân huyện Bến Lức giải quyết bằng bản án số 32/2013/DSST ngày 07/5/2013. Do đó, việc cấn trừ nợ theo thoả thuận ngày 20/11/2011 là không thể thực hiện được và giữa bà L với vợ chồng ông B. Việc cấn trừ nợ này không liên quan gì đến hợp đồng chuyển nhượng giữa bà L với ông B.
Tại đơn khởi kiện, bà L yêu cầu ông Phan Văn B và bà Dương Thị B1 có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 1045, tờ bản đồ số 07, diện tích đo đạc thực tế 887,2m², loại đất HNK, toạ lạc tại ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An cho bà L.
Tuy nhiên, hiện nay đối với yêu cầu phản tố của ông B về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì cho rằng giả cách cho hợp đồng vay 550.000.000 đồng, lãi suất 8%/tháng, không thời hạn thì bà L đồng ý. Bà L yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu là buộc ông B, bà B1 trả lại số tiền vay là 550.000.000 đồng và lãi suất 20%/năm kể từ thời điểm thoả thuận cấn trừ ngày 20/11/2011 cho đến ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Ông B chưa trả lãi được khoản tiền nào.
Ông Phan Văn B do bà Nguyễn Thị Thanh N1 là người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/12/2010 giữa ông Phan Văn B, bà Dương Thị B1 với bà Phạm Thị Bích L được Văn phòng C, quyển số 5/TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa 1045, tờ bản đồ số 07, diện tích 929m², loại đất HNK, toạ lạc tại ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An là chữ ký của ông B và bà B1. Tuy nhiên không có việc chuyển nhượng trên thực tế, không có việc giao nhận tiền, đất mà chỉ giả tạo để che dấu cho việc vay tiền của ông B với bà L.
Trước đây, vợ chồng ông B có vay bà L 550 triệu, lãi suất 8%/tháng, không thời hạn, mỗi tháng ông B trả lãi là 4.400.000 đồng nhưng không lập thành văn bản. Đến ngày 10/12/2010, bà L yêu cầu ông B phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đảm bảo cho khoản vay, khi nào ông B trả tiền sẽ huỷ hợp đồng để trả lại bản chính GCNQSDĐ cho ông B. Do đó, ngày 10/12/2010 vợ chồng ông B và bà L đến Văn phòng C để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đã giao bản chính GCNQSDĐ thửa 1045, tờ bản đồ số 7, diện tích 929m² cho bà L để đảm bảo thế chấp cho khoản vay chứ không phải là chuyển nhượng, ông B, bà B1 không nhận số tiền nào của bà L theo hợp đồng chuyển nhượng và không giao đất cho bà L.
Đến ngày 12/9/2011, vợ chồng ông B có mượn lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB265554 để đến cây xăng 1932 cầm cố để mua xăng về bán và có ký biên nhận ngày 12/09/2011. Trong thời gian này ông B vẫn trả lãi bình thường.
Đến tháng 11/2011, do khoản nợ bà L cho ông B vay là mượn từ ông Nguyễn Thành H, nhưng khi đó bà L không còn giữ sổ đỏ của ông B nữa, nên ông H yêu cầu ông B và bà L đến nhà ông H để cấn trừ số nợ mà bà L nợ ông H theo biên nhận ngày 30/8/2010 sang thành tên của ông B nợ ông H. Việc cấn trừ nợ có lập thành văn bản và do ông Nguyễn Thành H giữ.
Sau khi thoả thuận cấn trừ nợ tại nhà ông H xong, thì về nhà của bà L, bà L viết giấy xác nhận có nội dung: Bà L và ông B đến tận nhà ông H để giải quyết cấn trừ giấy nợ, nội dung: “Tôi Phan Thị Bích L1 có mượn của anh H số tiền 550.000.000 đồng biên nhận ký ngày 30/8/2010. Nay tôi sang số tiền mượn của anh H cầm lại số tiền 550 triệu trên qua tên anh Phan Văn B chịu trách nhiệm ký vào ngày 30/8/2010 vay lại của anh H. (Nhưng anh H vẫn giữ lại biên nhận của chị L1 và hẹn lại khi nào sang sổ đỏ CNQSDĐ của anh B qua công chứng cho anh H thì anh H mới trả lại cho Liên giấy nhận nợ cũ”.
Tuy nhiên, ông H không chờ công chứng sang tên mà trực tiếp khởi kiện ông B tại Toà án nhân dân huyện Bến Lức và hiện nay diện tích 929m², thửa đất số 1045, tờ bản đồ số 7 tại ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An đã bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An cưỡng chế kê biên để thi hành án cho ông H. Như vậy, kể từ ngày 20/11/2011, khi bà L1 đã cấn trừ số tiền ông B nợ bà L1 sang cho ông H và vợ chồng ông B chỉ có nghĩa vụ thanh toán nợ cho ông H, không còn trách nhiệm gì với bà L1 nữa.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của bà L1 thì ông B hoàn toàn không đồng ý, vì việc ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 10/12/2010 là giả tạo nhằm che dấu cho hợp đồng vay chứ không có việc chuyển nhượng. Ông B phản tố yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/12/2010 giữa ông Phan Văn B, bà Dương Thị B1 với bà Phạm Thị Bích L được Văn phòng C, quyển số 5/TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa 1045, tờ bản đồ số 07, diện tích 929m², loại đất HNK, toạ lạc tại ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Đối với yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu: Số tiền vay gốc là 550.000.000 đồng, lãi suất 8%/tháng, ông B đã trả lãi mỗi tháng 4.400.000 đồng cho đến 20/11/2011, việc trả lãi không lập thành văn bản nên không nhớ cụ thể số tiền lãi đã đóng và không có chứng cứ chứng minh. Về tiền nợ gốc 550.000.000 đồng đã được cấn trừ trong khoản nợ 1.200.000.000 đồng theo Bản án số 31/2013/DSST ngày 07/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức và Bản án phúc thẩm số 293/2013/DS-PT ngày 03/10/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An giải quyết tranh chấp về hợp đồng vay tài sản giữa ông Nguyễn Thành H với ông Phan Văn B. Do đó, nay không đồng ý trả số tiền nào cho bà L.
Bị đơn bà Dương Thị B1: Thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Thanh N1 đại diện cho ông Phan Văn B. Bà B1 yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Việc tống đạt yêu cầu giao cho người đại diện theo uỷ quyền của ông B nhận thay cho bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Minh T1 trình này: Hiện nay ông đang sống trên thửa đất 1045 của ông B do ông B cầm cố với số tiền 500.000.000 đồng từ năm 2009 cho đến nay. Hiện nay ông B chưa trả tiền cho ông. Đồng thời, căn nhà số C là do ông xây dựng năm 2020.
Tuy nhiên, ông T1 không yêu cầu giải quyết vấn đề gì trong vụ án này. Trường hợp sau này có tranh chấp thì sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Ông T1 yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Toà án các cấp
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Văn phòng C xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/12/2010 giữa ông Phan Văn B, bà Dương Thị B1 với bà Phạm Thị Bích L được Văn phòng C, quyển số 5/TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa 1045, tờ bản đồ số 07, diện tích 929m², loại đất HNK, toạ lạc tại ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An được Văn phòng C được thực hiện đúng trình tự, thủ tục qui định và đúng yêu cầu của các bên đương sự. Đối với yêu cầu vô hiệu hợp đồng giữa các bên, Văn phòng C đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định pháp luật và xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại Bản án dân sự số 113/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức đã tuyên:
Căn cứ khoản 3, khoản 11 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 217, Điều 244, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 122, Điều 124, Điều 131, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468, Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 12, Điều 14, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Bích L đối với bị đơn ông Phan Văn B, bà Dương Thị B1 về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 1045, tờ bản đồ số 07, diện tích đo đạc thực tế 887,2m², loại đất HNK, toạ lạc tại ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Văn B đối với nguyên đơn bà Phạm Thị Bích L về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: 30.000.000 đồng, nguyên đơn phải chịu toàn bộ và đã nộp xong.
- Về án phí sơ thẩm:
- Bà Phạm Thị Bích L được miễn án phí.
- Ông Phan Văn B được miễn án phí.
- Bà Dương Thị B1 phải chịu 24.969.538 đồng.
Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/12/2010 giữa ông Phan Văn B, bà Dương Thị B1 với bà Phạm Thị Bích L được Văn phòng C, quyển số 5/TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa 1045, tờ bản đồ số 07, diện tích 929m², loại đất HNK, toạ lạc tại ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Buộc ông Phan Văn B, bà Dương Thị B1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Phạm Thị Bích L số tiền 1.264.635.845 đồng, bao gồm 550.000.000 đồng tiền nợ gốc và 714.635.845 đồng tiền nợ lãi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, mức lãi suất được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 27 tháng 9 năm 2024, ông Phan Văn B có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm xem xét không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bà Nguyễn Thị Thanh N1 đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn B xác định số tiền vay 550.000.000 đồng đã được cấn trừ nợ cho ông H và ông H đã khởi kiện ông B, đã có bản án có hiệu lực pháp luật nên không đồng ý trả khoản tiền nào cho bà L. Khi chuyển giao nghĩa vụ giữa ông B, bà L và ông H 03 bên có viết giấy chỉ có 01 bản do ông H giữ.
Ông Bùi Quang N đại diện bà L trình bày: Không có việc chuyển giao nghĩa vụ giữa ông B, bà L và ông H như bà N1 trình bày. Ông N đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Tính có căn cứ, hợp pháp của kháng cáo:
- Quan điểm giải quyết kháng cáo:
Người tiến hành tố tụng và Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của BLTTDS.
Kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn B đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 272, 273, 276 BLTTDS. Do đó đủ điều kiện để xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của ông Phan Văn B, thấy rằng:
Các bên thống nhất trình bày hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/12/2010 giữa ông B, bà B1 với bà L là giả tạo để che giấu hợp đồng vay tiền nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng nêu trên là có căn cứ. Hợp đồng vay tiền giữa các bên vẫn có hiệu lực. Bà L yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu là buộc ông B, bà B1 trả lại số tiền vay là 550.000.000 đồng và lãi suất 10%/năm kể từ thời điểm thoả thuận cấn trừ ngày 20/11/2011 cho đến ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Bà Nguyễn Thị Thanh N1 đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn B xác định số tiền vay 550.000.000 đồng đã được cấn trừ nợ cho ông H theo giấy cần trừ nợ ngày ngày 20/11/2011 và ông H đã khởi kiện ông B, đã có bản án có hiệu lực pháp luật nên không đồng ý trả khoản tiền nào cho bà L.
Xét thấy, nội dung giấy cấn trừ nợ trên thể hiện ông B sẽ trả nợ số tiền 550.000.000 đồng vay của bà L, nhưng bà L vay tiền của ông H nên nghĩa vụ chuyển giao sang cho ông B; bà L và ông B đồng ý ký tên vào giấy cấn trừ nợ nhưng không có bên ông H tham gia đồng ý ký tên. Căn cứ theo quy định tại 370 BLDS năm 2015 thì việc chuyển giao nghĩa vụ phải được sự đồng ý của bên có quyền nên việc bà L, ông B tự thỏa thuận chuyển giao, phía ông H không biết và cũng không đồng ý ký tên nên việc chuyển giao này không có giá trị pháp lý. Hơn nữa, tại các bản án sơ thẩm, phúc thẩm của Tòa án hai cấp tỉnh Long An giải quyết tranh chấp giữa ông H với bà L (BA số 32/DSST ngày 07/5/2013 và BA số 268/DSPT ngày 23/9/2013) và giữa ông H với ông B (BA số 31/DSST ngày 07/5/2013 và BA số 293/DSPT ngày 03/10/2013) cũng không có thể hiện việc giải quyết đối với khoản nợ của ông B với bà L. Mặt khác, ông B cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông H thay cho bà L. Do đó, việc chuyển giao nghĩa vụ này chưa được thực hiện nên ông B vẫn phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà L.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc ông Phan Văn B, bà Dương Thị B1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Phạm Thị Bích L số tiền 1.264.635.845 đồng, bao gồm 550.000.000 đồng tiền nợ gốc và 714.635.845 đồng tiền nợ lãi là có căn cứ. Xét kháng cáo của ông B là không có cơ sở để chấp nhận nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Văn B. Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
- Đơn kháng cáo của ông Phan Văn B được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
- Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm là phù hợp quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét kháng cáo của Phan Văn B, thấy rằng:
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Văn B thuộc đối tượng là người cao tuổi và ông B có làm đơn xin miễn án phí. Do đó, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự, cho ông B được miễn án phí.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Xét thấy, nội dung giấy cấn trừ nợ trên thể hiện ông B sẽ trả nợ số tiền 550.000.000 đồng vay của bà L, nhưng bà L vay tiền của ông H nên nghĩa vụ chuyển giao sang cho ông B; bà L và ông B đồng ý ký tên vào giấy cấn trừ nợ nhưng không có bên ông H tham gia đồng ý ký tên. Căn cứ theo quy định tại 370 BLDS năm 2015 thì việc chuyển giao nghĩa vụ phải được sự đồng ý của bên có quyền nên việc bà L, ông B tự thỏa thuận chuyển giao, phía ông H không biết và cũng không đồng ý ký tên nên việc chuyển giao này không có giá trị pháp lý. Hơn nữa, tại các bản án sơ thẩm, phúc thẩm của Tòa án hai cấp tỉnh Long An giải quyết tranh chấp giữa ông H với bà L (BA số 32/DSST ngày 07/5/2013 và BA số 268/DSPT ngày 23/9/2013) và giữa ông H với ông B (BA số 31/DSST ngày 07/5/2013 và BA số 293/DSPT ngày 03/10/2013) cũng không có thể hiện việc giải quyết đối với khoản nợ của ông B với bà L. Mặt khác, ông B cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông H thay cho bà L. Do đó, việc chuyển giao nghĩa vụ này chưa được thực hiện nên ông B vẫn phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà L.
Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc ông Phan Văn B, bà Dương Thị B1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Phạm Thị Bích L số tiền 1.264.635.845 đồng, bao gồm 550.000.000 đồng tiền nợ gốc và 714.635.845 đồng tiền nợ lãi là có căn cứ. Ông B kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới ngoài lời trình bày bằng miệng của bà N1 nhưng không được ông N đại diện cho bà L thừa nhận nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông B. Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 đề nghị giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 113/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Văn B.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 113/2024/DS-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Căn cứ vào Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; 95; Điều 205; Các Điều 147, 227, 266, 267, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào Điều 175 Bộ Luật Dân sự 2015; Điều 12, 166, 170 và Điều 203 Luật Đất đai;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Bích L đối với bị đơn ông Phan Văn B, bà Dương Thị B1 về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa 1045, tờ bản đồ số 07, diện tích đo đạc thực tế 887,2m², loại đất HNK, toạ lạc tại ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Văn B đối với nguyên đơn bà Phạm Thị Bích L về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
- Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: 30.000.000 đồng, nguyên đơn phải chịu toàn bộ và đã nộp xong.
- Về án phí sơ thẩm:
- Bà Phạm Thị Bích L được miễn án phí.
- Ông Phan Văn B được miễn án phí.
- Bà Dương Thị B1 phải chịu 24.969.538 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Phan Văn B được miễn án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. /.
Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/12/2010 giữa ông Phan Văn B, bà Dương Thị B1 với bà Phạm Thị Bích L được Văn phòng C, quyển số 5/TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa 1045, tờ bản đồ số 07, diện tích 929m², loại đất HNK, toạ lạc tại ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
Buộc ông Phan Văn B, bà Dương Thị B1 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Phạm Thị Bích L số tiền 1.264.635.845 đồng, bao gồm 550.000.000 đồng tiền nợ gốc và 714.635.845 đồng tiền nợ lãi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 1 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, mức lãi suất được áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Hữu Nghĩa |
Bản án số 137/2025/DS-PT ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 137/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
