|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2024/HS-ST
Ngày 22-11-2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đào Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh – Cán bộ hưu trí và ông Nguyễn Văn Hiến – Phó Trưởng phòng Giáo dục huyện Y.
Thư ký phiên toà: Ông Đào Tiến Đạt - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 22/11/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thành T, sinh ngày 19/9/2006, nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và con bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2024 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo T: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1980, nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
2. Nguyễn Chí B, sinh ngày 05/02/2008, nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí B1 và con bà Nguyễn Thị N1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 12/6/2023 bị Công an huyện K xử phạt hành chính về hành vi Gây rối trật tự công cộng, hình thức Cảnh Cáo (lúc đó 15 tuổi 1 tháng 13 ngày, xảy ra 18/3/2023 Đ107); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2024 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo B: Ông Nguyễn Chí B1, sinh năm 1969, nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
3. Nguyễn Vũ D, sinh ngày 07/6/2006, nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1 và con bà Vũ Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 15/8/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Có mặt.
4. Đỗ Cao L, sinh ngày 18/8/2006, nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Cao L1 và con bà Nguyễn Thị B2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 15/8/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo L: Ông Đỗ Cao L1, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
5. Lê Ngọc T1, sinh ngày 08/01/2005, nơi cư trú: Thôn Q, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Là sinh viên trường Đại học S (ngày 01/8/2024 bị buộc thôi học); trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc M và con bà Nguyễn Thị C2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 15/8/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo L và bị cáo T: Bà Lê Thị Thanh H1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo B: Bà Nguyễn Thị T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H. Có mặt.
+ Người làm chứng:
- Cháu Nguyễn Việt Q, sinh ngày 18/12/2008. Đại diện hợp pháp của cháu Q: Anh Nguyễn Văn N2, sinh năm 1986 và chị Trần Thị D1, sinh năm 1988, đều trú tại: Thôn H, xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
- Cháu Phan Nhất L2, sinh ngày 08/12/2009. Đại diện hợp pháp của cháu L2: Anh Phan Văn N3, sinh năm 1985 và chị Luyện Thị Y, sinh năm 1986, đều trú tại Thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Có mặt.
- Cháu Đỗ Gia M1, sinh ngày 18/6/2007. Đại diện hợp pháp của cháu M1: Anh Đỗ Văn L3, đều trú tại: Thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Cháu Đỗ Xuân N4, sinh ngày 02/12/2008. Đại diện hợp pháp của cháu N4: Chị Đỗ Thị Thu H2, sinh năm 2004, đều trú tại: Thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Anh Trương Việt A, sinh ngày 05/10/2006; trú tại: Thôn T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Anh Trần Quốc T3, sinh ngày 21/8/2006, trú tại: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Anh Trần Văn D2, sinh năm 1984 và chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1986, đều trú tại: Thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1969, trú tại: Thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn B3, sinh năm 1975 và bà Đỗ Thị H5, sinh năm 1976, đều trú tại: Thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành T, sinh ngày 19/9/2006, trú tại thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Chí B, sinh ngày: 05/02/2008, Nguyễn Vũ D, sinh ngày: 07/6/2006, đều trú tại thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Lê Ngọc T1, sinh năm: 2005, trú tại thôn Q, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Đỗ Cao L, sinh ngày: 18/8/2006, trú tại xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Đỗ Công Q1, sinh ngày: 31/3/2006, Phan Nhất L2, sinh ngày: 08/12/2009, cùng trú tại thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Việt Q, sinh ngày: 18/12/2008, trú tại xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên có mối quan hệ quen biết do thường xuyên cùng chơi game tại các quán net và thường xuyên tụ tập điều khiển các xe môtô đi trên các tuyến đường địa bàn tỉnh Hưng Yên gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Các bị can này tự lập và tham gia nhóm messenger “Dân T4 phố 5.0” để rủ nhau đi chơi ban đêm. Trong nhóm “Dân T4 phố 5.0” còn có các thanh niên khác cùng tham gia như Vũ Văn M2, sinh năm 2002, trú tại thôn A, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Đặng Văn K - sinh ngày: 28/6/2006, nơi cư trú: thôn M, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên;
Vào khoảng 19 giờ ngày 14/6/2024, M2 nhắn tin lên nhóm messenger trên hình ảnh chụp màn hình một bài đăng trên nhóm facebook “Tàn Sát H” với nội dung: “Dân T4 ơi lửa đường đi mấy con chó, hôm qua chạy nhanh đấy” thì những đối tượng trong nhóm vào bình luận và hẹn sẽ đi tìm đánh nhóm thanh niên ở huyện Y nhưng chưa hẹn thời gian cụ thể. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi D đang điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xám, không đeo BKS đi qua ngã tư xã D, huyện K thì gặp 01 nhóm nam thanh niên khoảng 14 đến 15 người (không xác định được nhân thân, lai lịch) cầm kiếm, vỏ chai bia đi khoảng 07 đến 08 xe môtô từ phía huyện Y đến. Trong đó, có 01 xe mô tô trong nhóm này gồm 02 nam thanh niên, người ngồi sau cầm kiếm tách đoàn đuổi theo D về phía huyện V khoảng 50m thì D rẽ vào quán I ở thôn Y, xã D, huyện K nên 02 người này không đuổi theo nữa. Khi vào trong quán I, D gặp L đang chơi internet thì D nói với L: “Em vừa bị đuổi”, nghe vậy L nói “Để anh ra xem như nào”. Sau đó, D và L đi ra phía trước quán I, D dùng tay phải lấy 01 chiếc tuýp sắt, hình hộp chữ nhật, màu đen, dài khoảng 02m có sẵn ở cửa quán (không rõ của ai) rồi ngồi sau xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đỏ, không đeo BKS, do L điều khiển đi về phía huyện V để tìm nhóm bạn trong nhóm messenger “Dân Tiến P 5.0”. Trên đường đi được khoảng 100m thì gặp L2 điều khiển xe môtô nhãn
hiệu Honda Wave Alpha, màu đen, không đeo BKS chở T, Đỗ Công Q1 điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu trắng, không đeo BKS chở B; Nguyễn Việt Q điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh, không đeo BKS chở T1 đi ngược chiều. Thấy vậy, L điều khiển xe quay lại, nhập đoàn đi cùng. D nói với mọi người: “Vừa bị bọn Yên M3 đuổi”, T liền bảo: “T5 đi lên Y” (tức bảo đi lên tìm đánh nhóm thanh niên trên huyện Y) thì mọi người trong nhóm đều đồng ý. Ngay sau đó, các đối tượng đi đến căn nhà bỏ hoang thuộc thôn Y, xã D, huyện K (là địa điểm các đối tượng hay tụ tập, cất giấu hung khí từ trước) để lấy hung khí. Tại đây, T đi vào trong lấy 01 tuýp sắt hình trụ tròn, dài 03m, một đầu được hàn gắn 01 con dao bầu (gọi là phóng lợn); 01 tuýp sắt hình trụ tròn, dài 2,42m, một đầu được hàn gắn 01 con dao dựa màu trắng; 01 tuýp sắt dài khoảng 03m. T đưa cho B 01 tuýp sắt hình trụ tròn 01 đầu gắn dao dựa màu trắng, đưa cho T1 cầm tuýp sắt dài 3m, còn T cầm phóng lợn. Đỗ Công Q1 điều khiển xe chở B; Nguyễn Việt Q chở T1; Đỗ Cao L điều khiển xe chở D. B, T1, D đều cầm theo các hung khí nêu trên. Rồi đi theo đường QL39 về phía huyện Y. Khi đến đoạn ngã ba thuộc địa phận xã T, huyện Y thì các đối tượng rẽ trái đi về phía thị trấn Y. Trên đường đi, các đối tượng đều mài đầu dao, đầu tuýp sắt cà xuống nền đường để cho toé lửa và đi xe mô tô với tốc độ nhanh, bấm còi liên tục để những người, phương tiện khác đang tham gia giao thông trên đường phải nhường đường cho các đối tượng.
Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày, các đối tượng di chuyển đến đoạn đường ĐH40, phía trước trụ sở UBND thị trấn Y, huyện Y (cách khoảng 50m) thì thấy anh Trương Việt A, sinh ngày: 05/10/2006, trú tại thôn T, thị trấn Y, huyện Y đang đi cùng các bạn là Đỗ Gia M1, sinh ngày 18/6/2007; trú tại thôn Đ, thị trấn Y; Đỗ Xuân N4, sinh ngày 02/12/2008 trú tại thôn T, thị trấn Y, huyện Y; Trần Quốc T3, sinh 21/8/2006, trú tại thôn T, xã T, huyện Y, đi ngược chiều. Lúc này, T hô lên “Đây rồi” thì các đối tượng trong nhóm đều phóng xe tốc độ cao tiến lại phía nhóm của anh Việt A, ép xe mô tô của nhóm anh Việt A vào lề đường bên trái (theo hướng đi của của nhóm T). Rồi T xuống xe, dùng hai tay cầm vào thân phóng lợn, chém một phát theo chiều từ trên xuống dưới trúng vào mái tôn phía trước vỉa hè của gia đình bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1969, trú tại thôn Đ, thị trấn Y khiến mái tôn bị rách một vết dài 18cm, còn D dùng tay trái cầm tuýp sắt vụt 03 phát theo chiều xiên từ trên xuống dưới, từ phải qua trái và theo chiều xiên từ trên xuống dưới, từ trái qua phải nhưng không trúng ai; T1 xuống xe dùng hai tay cầm tuýp sắt vụt nhiều phát theo chiều xiên từ trên xuống dưới, từ phải qua trái và theo chiều xiên từ trên xuống dưới, từ trái qua phải nhưng không trúng ai; L2 xuống xe dùng tay cầm gạch đuổi theo ném nhóm anh Việt A nhưng không trúng ai; B ngồi sau xe do Đỗ Công Q1 điều khiển, dùng hai tay cầm vào thân phóng lợn chém một phát theo chiều xiên từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào phía sau đầu bên phải của anh Việt A, làm anh Việt A bị rách một vết dài 02cm. Bị nhóm của T đuổi đánh, nhóm của anh Việt A bỏ chạy theo nhiều hướng. Quá trình đuổi theo, nhóm của T đều hô hét, bấm còi inh ỏi và chửi thề gây huyên náo tại khu vực. Nhóm của T đuổi đánh nhóm của Việt A khoảng 05 phút thì điều khiển xe bỏ đi về căn nhà hoang thôn Y, xã D, huyện K cất hung khí, rồi đi về nhà. Ngày 19/6/2024 Lê
Ngọc T1 giao nộp 01 tuýp sắt hình trụ tròn, đường kính 06cm, chiều dài 3m, 01 đầu gắn lưỡi dao dài 17cm, bản rộng nhất 10cm; 01 tuýp sắt hình trụ tròn, đường kính 07 cm, chiều dài 2,42m, một đầu gắn lưỡi dao dài 18cm, bản rộng nhất 10cm.
Hậu quả: Hành vi của các đối tượng đã gây ùn tắc giao thông, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại khu vực, làm người dân sinh sống xung quanh hiện trường sợ hãi, phải đi vào trong nhà và đóng cửa. Anh Việt A bị chém rách 01 vết dài 02 cm tại phía sau đầu bên phải đi khám và điều trị tại Bệnh viện Đ đến ngày 15/6/2024 ra viện.
Ngày 14/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã rà soát, thu thập được 01 video clip ghi lại được, hình ảnh các đối tượng cầm hung khí, điều khiển xe mô tô đuổi đánh nhau tại hiện trường và 01 đoạn video clip có hình ảnh các đối tượng cầm hung khí, điều khiển xe mô tô đi với tốc độ cao trên đường ĐH40.
Ngày 04/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 02 video thu giữ được nêu trên. Tại bản Kết luận giám định số 227-KL-KTHS, ngày 9/10/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận: “Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các video gửi giám định”.
Kết luận giám định thương tích số 6143/KL-KTHS, ngày 13/9/2024 của V - Bộ C4 kết luận: Tổn thương cơ thể của anh Trương Việt A do vật sắc nhọn gây ra, tỷ lệ tổn thương là 01%.
Vật chứng của vụ án: 01 tuýp sắt hình trụ tròn, đường kính 06cm, chiều dài 3m, 01 đầu gắn lưỡi dao dài 17cm, bản rộng nhất 10cm; 01 tuýp sắt hình trụ tròn, đường kính 07 cm, chiều dài 2,42m, một đầu gắn lưỡi dao dài 18cm, bản rộng nhất 10cm hiện đang quản lý tại kho vật chứng Công an huyện Y.
Đối với 01 tuýp sắt hình hộp màu đen dài 02m; 01 tuýp sắt hình trụ dài 03m, Cơ quan điều tra đã rà soát nhưng không quản lý được. Đối với 4 xe mô tô các bị can sử dụng là phương tiện di chuyển, đại diện gia đình và các bị can đã bán nên không thu giữ, quản lý được.
Ngày 26/9/2024, anh Trương Việt A và đại diện gia đình đã có đơn xin miễn truy cứu Trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.
Đối với Đỗ Công Q1, sau khi làm việc với CQĐT. Q1 đã bỏ trốn. Ngày 26/8/2024, Cơ quan điều tra đã truy nã đối với Q1; ngày 11/10/2024, Cơ quan điều tra Quyết định tách vụ án đối với hành vi Gây rối trật tự công cộng của Đỗ Công Q1 để tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào bắt được xử lý sau.
Đối với Nguyễn Việt Q, Phan Nhất L2 do khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khi Q mới 15 tuổi 06 tháng, L2 mới 14 tuổi 06 tháng 06 ngày (đều dưới 16 tuổi) nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Y đã xử phạt hành chính đối với Q và L2 hình thức Cảnh cáo.
Đối với hành vi Nguyễn Chí B gây tỷ lệ tổn thương cơ thể cho anh Trương Việt A là 1%. Do anh Việt A đã đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B và các bị cáo khác về hành vi này.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Trương Việt A đã được các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, đến nay không có yêu cầu bồi thường khoản gì khác; bà Nguyễn Thị H4 bị hỏng mái tôn nhưng không yêu cầu các bị cáo bồi thường do vậy không phải giải quyết.
Quá trình điều tra, cả năm bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Cáo trạng số 133/CT-VKS-YM ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố Nguyễn Thành T, Nguyễn Chí B, Nguyễn Vũ D, Lê Ngọc T1 và Đỗ Cao L về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, các bị cáo và đại diện hợp pháp đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành T, Nguyễn Chí B, Nguyễn Vũ D, Lê Ngọc T1 và Đỗ Cao L phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
Căn cứ:
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Thành T. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành T từ 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2024.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Chí B. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí B từ 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2024.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58;Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Vũ D. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Vũ D từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2024.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50 và khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự đối với Lê Ngọc T1. Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc T1 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 50 và khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 92 Luật thi hành án hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự đối đối với Đỗ Cao L. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Cao L 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 03 năm 06 tháng đến 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo cho bị cáo T và bị cáo L đề nghị HĐXX xử phạt các bị cáo T và L4 mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cho bị cáo L được cải tạo tại địa phương.
Người bào chữa cho bị cáo B đề nghị HĐXX xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo để xử phạt bị cáo 02 năm tù, bố bị cáo bị tàn tật bẩm sinh, ngồi xe lăn tham dự phiên toà như đã trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, kết quả khám nghiện hiện trường, vật chứng thu giữ, biên bản giải trình, hình ảnh camera và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có cơ sở xác định: Khoảng hơn 22 giờ ngày 14/6/2024, tại khu vực thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Nguyễn Thành T, Nguyễn Chí B, Nguyễn Vũ D, Đỗ Cao L và Lê Ngọc T1 đã có hành vi dùng phóng lợn, tuýp sắt gắn dao, 2 tuýp sắt, gạch (là hung khí) đuổi đánh nhau gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thôn Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Trong đó Nguyễn Chí B sử dụng tuýp gắn dao chém vào vùng đầu phía sau bên phải của anh Trương Việt A bị thương tích, tổn hại 1% sức khỏe.
Các bị cáo Nguyễn Thành T, Nguyễn Chí B và Đỗ Cao L đều không bị mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi, theo Điều 12 Bộ luật hình sự thì các bị cáo Nguyễn Thành T, Nguyễn Chí K1, Đỗ Cao L Nguyễn Vũ D và Lê Ngọc T1 có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, phạm tội nghiêm trọng, có hành vi tập trung đông người, dùng xe moto cầm hung khí đánh nhau, xâm phạm đến sức khoẻ, tài sản của những người xung quanh, gây mất trật an ninh xã hội, cản trở hoạt động bình thường của những người khác ở nơi công cộng, coi thường kỷ cương pháp luật, gây tâm lý lo ngại trong nhân dân. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ mà các bị cáo đã thực hiện là cần thiết, để giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm
[4] Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Thành T là người khởi xướng, trực tiếp lấy các hung khí đưa cho bị cáo nên giữ vai trò cao nhất trong vụ án, tiếp đó đến bị cáo D, Nguyễn Chí B, bị cáo Lê Ngọc T1, bị cáo L chở bị cáo D nên đồng phạm với vai trò thực hành.
[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cả năm bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự riêng của các bị cáo thì thấy: Bị cáo B có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bố bị cáo bị tàn tật bẩm sinh, ngồi xe lăn tham dự phiên toà có đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B; bố mẹ bị cáo T, T1 và L có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo T, Biên T6 và L được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6]. Quyết định hình phạt: Các bị cáo tham gia đồng phạm giản đơn. Căn cứ vào Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự để đánh giá vai trò của các bị cáo, từ đó quyết định hình phạt tương xứng.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo; trên cơ sở đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo T, B và D ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để giáo dục, cải tạo các bị cáo. Bị cáo T6 và bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cho hưởng án treo và giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Thành T 17 tuổi 8 tháng 25 ngày, bị cáo Nguyễn Chí B 16 tuổi 4 tháng 9 ngày, bị cáo Đỗ Cao L 17 tuổi 9 tháng 27 ngày. Hình phạt áp dụng đối với các bị cáo dưới 18 tuổi là mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với các bị cáo chưa thành niên không quá 3/4 mức hình phạt mà điều luật quy định.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Đối với hành vi Nguyễn Chí B gây tỷ lệ tổn thương cơ thể cho anh Trương Việt A là 1%. Do anh Việt A đã đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với B và các bị cáo khác về hành vi này. Các bị cáo đã liên đới bồi thường số tiền 10.000.000 đồng, đến nay anh Việt A không có yêu cầu bồi thường gì khác; bà Nguyễn Thị H4 bị hỏng mái tôn nhưng không yêu cầu các bị cáo bồi thường do đó không xem xét giải quyết nên không đặt ra xem xét về phần trách nhiệm dân sự.
[8] Về biện pháp tư pháp: Đối với 02 tuýp sắt hình trụ tròn liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu huỷ.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 3; Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ:
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Thành T.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Chí B.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Vũ D.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 50 và khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với Lê Ngọc T1.
- Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 50 và khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự đối đối với Đỗ Cao L.
2. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thành T, Nguyễn Chí B, Nguyễn Vũ D, Đỗ Cao L và Lê Ngọc T1 phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
3. Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Thành T 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2024.
- Bị cáo Nguyễn Chí B 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/8/2024.
- Bị cáo Nguyễn Vũ D 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2024.
- Bị cáo Lê Ngọc T1 02 (Hai) năm 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 04 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bị cáo Đỗ Cao L 01 (Một) năm 09 (C3) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 03 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trả tự do cho bị cáo Lê Ngọc T1 và Đỗ Cao L tại phiên tòa nếu các bị cáo T1 và L không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Lê Ngọc T1 cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; giao bị cáo Đỗ Cao L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trường hợp người người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 tuýp sắt hình trụ tròn, đường kính 06cm, chiều dài 3m, một đầu gắn lưỡi dao dài 17cm, bản rộng nhất dài 10cm và 01 tuýp sắt hình trụ tròn, đường kính 07cm, chiều dài 2,42m, một đầu gắn lưỡi dào dài 18cm, bản rộng nhất dài 10cm.
(Vật chứng trên đã chuyển Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Y, tỉnh Hưng Yên theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 21/11/2024).
5. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thành T, Nguyễn Chí B, Nguyễn Vũ D, Đỗ Cao L và Lê Ngọc T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đại diện hợp pháp của các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Hương |
Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 137/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
