Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/HS-ST
Ngày: 22-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh Hùng - Cán bộ nghỉ hưu.
  2. Ông Trần Hữu Lượng - Giáo viên nghỉ hưu.

- Thư ký phiên toà: Bà Ma Thị Vân Kiều - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 22/11/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 130/2024/TLST- HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2024/QĐXXST- HS, ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 19/10/1994 tại huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn M, xã Y, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn V, sinh năm: 1970 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1975; vợ: Trần Thị Thu H1, sinh năm 1997 (Đã ly hôn năm 2020); con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

2. Lý Văn T, sinh ngày 09/01/1994 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm T, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lý Văn T1, sinh năm: 1974 và bà Bàn Thị H2, sinh năm: 1972; vợ: Bàn Thị H3, sinh năm: 1999; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2021; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

3. Đặng Xuân N, sinh ngày 24/02/2008 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm T, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Tiểu B, sinh năm 1974 và bà Bàn Thị T2, sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

4. Đỗ Xuân T3, sinh ngày 09/01/2007 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Văn K, sinh năm: 1984 và bà Hà Thị H4, sinh năm: 1987; vợ, con: Chưa có; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Xuân T3: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1956, nơi cư trú: Khu H, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Đặng Xuân N: Bà Nguyễn Khánh L, sinh năm 1993 - Phó Bí thư Đoàn thanh niên thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).

- Người bị hại: Anh Hoàng Văn T4, sinh năm 2002, nơi cư trú: thôn H, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng giữa tháng 6/2024, Nguyễn Tuấn A, cư trú tại thôn M, xã Y, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc, thấy nhiều người có nhu cầu mua pháo hoa nổ nhập lậu với giá cao nên Tuấn A đã nảy sinh ý định làm giả pháo hoa nổ để bán kiếm tiền. Qua tìm hiểu, Tuấn A thấy loại pháo hoa nổ do Thái L1 sản xuất có 49 ống pháo phổ biến, dễ chế tạo và được nhiều người đặt mua. Tuấn A sử dụng tài khoản facebook tên “Hứa Gia C” đặt mua trên mạng xã hội facebook các ống giấy cát tông loại có đường kính khoảng 02 cm, hình trụ tròn dài khoảng 10 cm, kèm theo nắp đậy cũng bằng giấy cát tông, dây cháy chậm, bột lưu huỳnh Tuấn A xin của một người tên Ngọc A1, đất sét lấy ở gần khu vực phòng trọ của Tuấn A, giấy bọc bên ngoài thuê in tại một xưởng in ở thành phố V. Để chế tạo pháo giả, Tuấn A dùng keo gắn các ống giấy cát tông lại với nhau thành các khối vuông có số lượng là 49 ống, lấy đất sét cho vào trong các ống đã gắn lại với nhau và cân đủ 2,2 kg/hộp, sau đó lấy bột lưu huỳnh rắc lên bề mặt đứng và dùng nắp đậy dán bịt đầu trên và đầu dưới lại rồi dùng giấy đã in sẵn dán vào xung quanh các ống bìa cát tông. Ban đầu Tuấn A tự mình làm pháo hoa giả. Sau đó Tuấn Athuê Đỗ Xuân T3,Đặng Xuân N,Lý Văn T, Tuấn Athỏa thuận trả 200.000 đồng/người/ngày công. T3, N, T đều biết việc chế tạo pháo hoa giả để bán nhằm mục đích kiếm tiền.

Khi thuê T3 và Nguyễn L2 pháo hoa giả Tuấn A2 không biết T3 và N là người dưới 18 tuổi. T3, N và T đồng ý đến làm pháo hoa giả, không bị Tuấn A2 xúi giục, ép buộc.

Sau đó, Tuấn A2 sử dụng tài khoản facebook của Tuấn A2 có tên hiển thị là “Hứa Gia C” đăng bài bán pháo hoa trên các hội nhóm, khi có khách đặt mua hàng thì Tuấn A2 sẽ liên hệ với khách hàng qua ứng dụng Messenger để thống nhất địa chỉ, số lượng và giá cả. Khi thỏa thuận mua bán, Tuấn A2 không nói về chất lượng của pháo cho người mua biết.

Ngày 25/7/2024, Tuấn A2 nhận được đơn đặt hàng của Hoàng Văn T4, cư trú tại thôn H, xã K, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, tên hiển thị facebook của T4 là “Nguyễn H5” đặt mua 07 hộp pháo hoa với giá 1.000.000 đồng/hộp, tổng 7.000.000 đồng. Sau đó, Tuấn A2 cùng T3 đóng 07 hộp pháo hoa giả vào thùng bìa cát tông và thuê Nguyễn Văn H6, cư trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc vận chuyển đến địa điểm nhận hàng và thu hộ số tiền 7.000.000 đồng, công vận chuyển 220.000 đồng. Tuấn A2 bảo T đem 07 hộp pháo hoa giả đến giao hàng cho H6 tại khu vực bờ hồ M thuộc phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Do H6 không biết đường nên nhờ Nguyễn Văn M, cư trú tại Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc đi giao hàng cho Hoàng Văn T4. H6 và M không biết gói hàng là pháo giả. Khi M đi đến Km51+700 thuộc thôn B, xã S, huyện S gặp và giao hàng cho T4; khi M vừa giao hàng, nhận tiền từ T4 thì bị lực lượng tuần tra của Phòng C2 Công an tỉnh T phát hiện lập biên bản.

Tại kết luận giám định số 1004/KL-KTHS ngày 29/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định không phải là pháo nổ (hoặc pháo hoa nổ). Bên trong mẫu vật gửi giám định không chứa thuốc pháo. Khối lượng mẫu vật gửi giám định là 14,5kg (Mười bốn phẩy năm kilogam)

Về vật chứng:

Quá trình điều tra tạm giữ: 01 hộp cotton dán niêm phong bên trong đựng 14 kg vật hình trụ đường kính 2,2cm, cao 10cm (số còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định); 14 khối hộp chữ nhật, mỗi khối có 49 ống trụ được kết nối bằng dây màu xanh; 44 mảnh giấy hình chữ nhật có kích thước (70x9,5)cm, một mặt trắng, mặt còn lại in chữ nước ngoài và số; 01 túi bột kim loại màu đen có trọng lượng 2,9kg; 01 sợi dây màu xanh, lõi màu đen dài 10m; 01 sợi dây màu xanh, lõi màu đen dài 4,62m; 43 mảnh giấy hình vuông, một mặt in màu trắng, mặt còn lại in màu, có chữ nước ngoài và số, kích thước (23x23)cm; 02 lọ keo dán nhãn hiệu Đức A3 đã qua sử dụng; 01 chiếc cân đồng hồ màu xanh, không có đĩa cân loại 05 kg; 01 túi đựng giấy hình tròn, nhiều màu, có đường kính 2cm, không đếm tổng số lượng bên trong; 01 túi nilon đựng chất bột màu trắng, có trọng lượng 800gam; 01 kéo kim loại phần tay cầm bằng nhựa màu đỏ, dài 18,5cm; 01 dao bằng kim loại có tay cầm bằng gỗ, dài 37,5cm, lưỡi dao rộng 06cm; 01 cuộn băng dính màu vàng; 01 túi nilon bên trong chứa chất màu nâu, trọng lượng 11 kg những đồ vật trên được đựng trong 02 thùng giấy dán niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen trắng đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Wave màu sơn đen bạc, biển số đăng ký 88B1-287.25 xe cũ đã qua sử dụng và 7.000.000 đồng tiền Ngân hàng N2.

Ngày 07/9/2024, đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Wave màu sơn đen bạc, biển số đăng ký 88B1-287.25 xe cũ đã qua sử dụng cho Nguyễn Văn M và số tiền 7.000.000 đồng cho Hoàng Văn T4.

Về dân sự:

Bị hại Hoàng Văn T4 đã nhận lại số tiền 7.000.000 đồng, không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Tại Cáo trạng số 132/CT-VKSSD, ngày 11/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Nguyễn Tuấn A, Lý Văn T,Đặng Xuân NvàĐỗ Xuân T3về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

- Tuyên bố: Cácbị cáo Nguyễn Tuấn A, Lý Văn T, Đặng Xuân NvàĐỗ Xuân T3phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lý Văn T từ 07 đến 10 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách từ 14 đến 20 tháng. Hạn thử thách tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36; 90, 91, 100 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Bị cáo Đặng Xuân N từ 09 đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ.

Xử phạt Bị cáo Đỗ Xuân T3 từ 09 đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ.

Không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

- Về dân sự: Bị hại đã nhận lại số tiền 7.000.000 đồng, không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Về xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp cotton dán niêm phong bên trong đựng 14 kg vật hình trụ đường kính 2,2cm, cao 10cm (số còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định); 14 khối hộp chữ nhật, mỗi khối có 49 ống trụ được kết nối bằng dây màu xanh; 44 mảnh giấy hình chữ nhật có kích thước (70x9,5)cm, một mặt trắng, mặt còn lại in chữ nước ngoài và số; 01 túi bột kim loại màu đen có trọng lượng 2,9kg; 01 sợi dây màu xanh, lõi màu đen dài 10m; 01 sợi dây màu xanh, lõi màu đen dài 4,62m; 43 mảnh giấy hình vuông, một mặt in màu trắng, mặt còn lại in màu, có chữ nước ngoài và số, kích thước (23x23)cm; 02 lọ keo dán nhãn hiệu Đức A3 đã qua sử dụng; 01 chiếc cân đồng hồ màu xanh, không có đĩa cân loại 05 kg; 01 túi đựng giấy hình tròn, nhiều màu, có đường kính 2cm, không đếm tổng số lượng bên trong; 01 túi nilon đựng chất bột màu trắng, có trọng lượng 800gam; 01 kéo kim loại phần tay cầm bằng nhựa màu đỏ, dài 18,5cm; 01 dao bằng kim loại có tay cầm bằng gỗ, dài 37,5cm, lưỡi dao rộng 06cm; 01 cuộn băng dính màu vàng; 01 túi nilon bên trong chứa chất màu nâu, trọng lượng 11 kg những đồ vật trên được đựng trong 02 thùng giấy dán niêm phong.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen trắng đã qua sử dụng.

- Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị HĐXX buộc các bị cáo nộp tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Đặng Xuân N, Đỗ Xuân T3không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát, chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Ngoài lời khai nhận của các bị cáo, hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng toàn bộ những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 6/2024 đến ngày 25/7/2024, tại phòng trọ của Nguyễn Tuấn A thuộc Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Nguyễn Tuấn A, Lý Văn T,Đặng Xuân Nvà Đỗ Xuân T3có hành vi chế tạo pháo hoa giả mục đích bán cho người khác để kiếm tiền. Ngày 25/7/2024, Nguyễn Tuấn A bán cho Hoàng Văn T4 07 hộp pháo hoa giả chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Nguyễn Tuấn A, Lý Văn T, Đặng Xuân NvàĐỗ Xuân T3 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[2] Về việc xem xét hành vi của các bị cáo.

Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Tuấn A là người trực tiếp chuẩn bị công cụ, nguyên liệu và hướng dẫn T3, T, Nguyễn C1 thực hiện hành vi chế tạo pháo hoa giả. T3, T, Nguyễn biết việc Tuấn A chế tạo pháo hoa giả nhằm mục đích bán cho người khác kiếm tiền. Do đó, trong vụ án này bị cáo Nguyễn Tuấn A có vai trò lớn nhất, các bị cáo còn lại có vai trò thấp hơn và ngang nhau.

Hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, do vậy cần phải có mức án thật nghiêm khắc tương xứng với nhân thân, hành vi phạm tội của từng bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cần áp dụng cho bị cáo để có mức án phù hợp.

Các bị cáo Đặng Xuân N, Đỗ Xuân T3 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự vì bị cáo T3, bị cáo Nguyễn phạm T5 khi chưa đủ 18 tuổi, bị cáo Tuấn A, bị cáo T không có tài sản gì riêng có giá trị.

[4] Về phần dân sự: Bị hại Hoàng Văn T4 đã nhận lại số tiền 7.000.000đồng, không có yêu cầu, đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp cotton dán niêm phong bên trong đựng 14 kg vật hình trụ đường kính 2,2cm, cao 10cm (số còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định); 14 khối hộp chữ nhật, mỗi khối có 49 ống trụ được kết nối bằng dây màu xanh; 44 mảnh giấy hình chữ nhật có kích thước (70x9,5)cm, một mặt trắng, mặt còn lại in chữ nước ngoài và số; 01 túi bột kim loại màu đen có trọng lượng 2,9kg; 01 sợi dây màu xanh, lõi màu đen dài 10m; 01 sợi dây màu xanh, lõi màu đen dài 4,62m; 43 mảnh giấy hình vuông, một mặt in màu trắng, mặt còn lại in màu, có chữ nước ngoài và số, kích thước (23x23)cm; 02 lọ keo dán nhãn hiệu Đức A3 đã qua sử dụng; 01 chiếc cân đồng hồ màu xanh, không có đĩa cân loại 05 kg; 01 túi đựng giấy hình tròn, nhiều màu, có đường kính 2cm, không đếm tổng số lượng bên trong; 01 túi nilon đựng chất bột màu trắng, có trọng lượng 800gam; 01 kéo kim loại phần tay cầm bằng nhựa màu đỏ, dài 18,5cm; 01 dao bằng kim loại có tay cầm bằng gỗ, dài 37,5cm, lưỡi dao rộng 06cm; 01 cuộn băng dính màu vàng; 01 túi nilon bên trong chứa chất màu nâu, trọng lượng 11 kg những đồ vật trên được đựng trong 02 thùng giấy dán niêm phong.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen trắng đã qua sử dụng, do đây là công cụ, phương tiện bị cáo Nguyễn Tuấn A sử dụng để thực hiện tội phạm.

[6] Các vấn đề khác:

Việc mua các ống giấy, dây cháy chậm để làm giả pháo hoa nổ, in giấy bọc bên ngoài hiện Tuấn A không nhớ đặt trên trang mạng xã hội nào và ở cửa hàng nào nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Người nam giới theo Tuấn A khai nhận tên Ngọc A1 là người cho bột lưu huỳnh do không xác định được tên, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Nguyễn Văn H6 và Nguyễn Văn M khi được thuê vận chuyển không biết đó là pháo hoa giả nên không đề cập xử lý.

Hoàng Văn T4 là người đặt mua pháo hoa của Tuấn A, nhưng bị lừa là pháo hoa giả, khi vừa nhận hàng thì bị bắt nên không xử lý đối với T4.

Đối với chủ nhà cho thuê phòng trọ, không biết việc Tuấn A chế tạo pháo hoa giả tại phòng trọ nên không đề cập xử lý.

Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 6/2024 đến ngày 25/7/2024, ngoài hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Hoàng Văn T4, với phương thức thủ đoạn như trên, Tuấn A còn chiếm đoạt số tiền 8.000.000 đồng của 03 bị hại thông qua ứng dụng M1 và thuê người vận chuyển thu tiền của các bị hại, sau mỗi lần giao dịch Tuấn A đã xóa hết tin nhắn, không xác định được thông tin của các bị hại nên không có căn cứ để điều tra xử lý.

Do đó, HĐXX không xem xét.

[7] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:

Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa các bị cáo Lý Văn T, Đặng Xuân N và Đỗ Xuân T3 có đơn xin miễn nộp tiền án phí. Xét thấy các bị cáo T, N, T3 thuộc hộ nghèo; là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; HĐXX chấp nhận miễn 100% án phí hình sự và dân sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Lý Văn T, Đặng Xuân N và Đỗ Xuân T3 phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt đối với các bị cáo:

- Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

- Căn cứ: khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lý Văn T 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 01 (một) năm 02 (hai) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/11/2024).

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

- Căn cứ: khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36; 90, 91, 100 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Xuân N, Đặng Xuân T6.

Xử phạt các bị cáo Đặng Xuân NvàĐỗ Xuân T3, mỗi bị cáo 06 tháng Cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của các bị cáo được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo Đặng Xuân Ncho Ủy ban nhân dân xã K; bị cáo Đỗ Xuân T3 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thi hành án.

Không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp cotton dán niêm phong bên trong đựng 14 kg vật hình trụ đường kính 2,2cm, cao 10cm (số còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định); 14 khối hộp chữ nhật, mỗi khối có 49 ống trụ được kết nối bằng dây màu xanh; 44 mảnh giấy hình chữ nhật có kích thước (70x9,5)cm, một mặt trắng, mặt còn lại in chữ nước ngoài và số; 01 túi bột kim loại màu đen có trọng lượng 2,9kg; 01 sợi dây màu xanh, lõi màu đen dài 10m; 01 sợi dây màu xanh, lõi màu đen dài 4,62m; 43 mảnh giấy hình vuông, một mặt in màu trắng, mặt còn lại in màu, có chữ nước ngoài và số, kích thước (23x23)cm; 02 lọ keo dán nhãn hiệu Đức A3 đã qua sử dụng; 01 chiếc cân đồng hồ màu xanh, không có đĩa cân loại 05 kg; 01 túi đựng giấy hình tròn, nhiều màu, có đường kính 2cm, không đếm tổng số lượng bên trong; 01 túi nilon đựng chất bột màu trắng, có trọng lượng 800gam; 01 kéo kim loại phần tay cầm bằng nhựa màu đỏ, dài 18,5cm; 01 dao bằng kim loại có tay cầm bằng gỗ, dài 37,5cm, lưỡi dao rộng 06cm; 01 cuộn băng dính màu vàng; 01 túi nilon bên trong chứa chất màu nâu, trọng lượng 11 kg những đồ vật trên được đựng trong 02 thùng giấy dán niêm phong.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen trắng đã qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/11/2024 giữa Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).

4. Về án phí và quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

- Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Miễn 100% án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lý Văn T, Đặng Xuân N và Đỗ Xuân T3.

- Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáoĐặng Xuân N, bị cáoĐỗ Xuân T3 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Chi cục T.H.A dân sự huyện SD;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Minh Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 137/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bán pháo hoa giả
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger