TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ –TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 137/2024/HS-ST Ngày: 19-11-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Đức và ông Nguyễn Văn Đời.
Thư ký phiên tòa: Ông Lã Phú Huy - Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 131/2024/HS-ST ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị Lê LanTên gọi khác: Không.
Sinh ngày 19/6/1994Tại Quảng Trị. Giới tính: Nữ.
Nơi cư trú: Tổ C, phường B, quận H, TP Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: Không biết chữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Không rõ và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1974; có chồng: Huỳnh Thanh H, sinh năm 1982 và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
2. Huỳnh Thanh HảoTên gọi khác: Ti.
Sinh ngày 30/01/1982Tại Đà Nẵng. Giới tính: Nam.
Nơi cư trú: Tổ C, phường B, quận H, TP .; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Huỳnh B (chết) và bà Phạm Thị D (chết); có vợ: Nguyễn Thị Lê L, sinh năm 1994 và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại: Chị Phạm Thị Minh P, sinh năm 1977; địa chỉ: Số B đường H, phường A, quận S, TP .. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Chị Trần Thị Thu H1, sinh năm 1983 - Chủ Doanh nghiệp tư nhân H2; địa chỉ: số B đường T, phường H, quận H, TP .. Vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị Ngọc B1, sinh năm 1972 – Chủ doanh nghiệp tư nhân H3; địa chỉ: Số A N, phường H, quận H, TP .. Vắng mặt.
- + Anh Đỗ Văn Đ, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ F, phường N, quận S, TP .. Vắng mặt.
- + Chị Hoàng Thúy Kim Q, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ D, phường A, quận S, TP .. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua Trung tâm giới thiệu việc làm nên ngày 19/02/2024, Nguyễn Thị Lê L đến làm giúp việc tại nhà chị Phạm Thị Minh P, tại số B đường H, phường A, quận S, TP .. Khi làm việc được khoảng 05 đến 07 ngày, trong lúc dọn dẹp phòng ngủ của chị P tại tầng 2 thì L thấy 01 chiếc chìa khóa để trong hộc thoại ở tủ đầu giường ngủ, nên L nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. L lấy chìa khóa này mở tủ gỗ trong phòng, lục lọi trong tủ thì phát hiện có một túi giấy màu trắng bên trong có để một cọc tiền gồm nhiều tờ tiền mệnh giá 100 USD (Đô la Mỹ). L lén lút rút 10 tờ tiền 100 USD
trong cộc tiền trên rồi cất giấu vào túi quần rồi bỏ số tiền còn lại vào vị trí cũ. Sau đó L vẫn làm việc bình thường tại nhà chị P. Do chị P không phát hiện việc mất tiền nên trong khoảng thời gian làm việc tại nhà chị P, L tiếp tục trộm cắp thêm khoảng 19 lần với cách thức như trên, mỗi lần L trộm 02 tờ tiền 100 USD, có lúc 05 tờ tiền 100 USD, có lúc 07 tờ tiền 100 USD. Tổng cộng số tiền L đã lấy trộm của chị P là 10.000 USD.
Quá trình trộm cắp tài sản của chị P, L thực hiện một mình và không có ai giúp sức. Đến khoảng giữa tháng 4/2024, L và Huỳnh Thanh H (là chồng của L) có bàn bạc với nhau mở quán C nhưng vì chưa có tiền nên chưa mở quán. Sau đó, L lấy số tiền 50.000.000 đồng (là tiền trộm cắp được của nhà chị P đã được L quy đổi ra tiền V) đưa cho H và nói đó là tiền chị P cho mượn. H liên hệ anh Đỗ Văn Đ thuê mặt bằng tại địa chỉ số H Đ, phường P, quận S, TP . với số tiền 24.000.000 đồng; liên hệ chị Hoàng Thúy Kim Q để mua lại các vật dụng để mở quán ăn (chị Q sang quán lại cho H) với số tiền 18.000.000 đồng, số tiền còn lại, H đã tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng giữa tháng 5/2024, L đem về đưa cho H 10 tờ tiền mệnh giá 100 USD, H có hỏi nguồn gốc số tiền này thì L nói trộm cắp được của nhà chị P. Mặc dù biết đây là tiền do L trộm cắp mà có nhưng H vẫn nhận lấy và đi quy đổi thành tiền Việt để tiêu xài. H không biết việc trước đó L trộm cắp số tiền 1.000 USD của chị P. Đến ngày 29/5/2024, chị P phát hiện bị mất số tiền 10.000 USD nên đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 41 ngày 21/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận S xác định: 10.000 USD tại thời điểm ngày 29/5/2024 có giá trị 252.400.000 đồng.
Toàn bộ số tiền trộm cắp được, L sử dụng như sau: Đem 9.000 USD đến hiệu vàng N1, ở địa chỉ số B đường T, phường H, quận H, TP . để quy đổi sang tiền Việt Nam đồng (quy đổi khoảng 15 lần) được tổng số tiền khoảng 230.400.000 đồng (01 USD quy đổi được 25.600 đồng), sau đó sử dụng số tiền này để mua 01 đôi bông tai màu vàng ở hiệu vàng Ngọc Vân Khoa với số tiền 3.500.000 đồng; mua 01 ĐTDĐ hiệu OPPO A38, màu vàng đồng với số tiền 4.200.000 đồng để L sử dụng và mua 01
ĐTDĐ hiệu OPPO A79 5G, màu tím nhạt với số tiền 7.700.000 đồng để cho H sử dụng (H không biết điện thoại này được mua từ tiền Lan trộm cắp của chị P); đưa cho H 50.000.000 đồng để mở quán cơm; số tiền còn lại L đã tiêu xài hết.
Số tiền 1.000 USD mà L trộm cắp đưa cho H, H đem đến một tiệm vàng trên đường H, TP . (không nhớ địa chỉ cụ thể) quy đổi thành tiền Việt được 25.600.000 đồng. Sau đó, H đã sử dụng số tiền này mua 01 nhẫn hột xanh màu vàng với số tiền 11.000.000 đồng, số tiền còn lại H đã tiêu xài hết.
* Tang vật thu giữ:
- - 01 đĩa CD-R màu vàng, lưu trữ dữ liệu trích sao camera an ninh ghi nhận một phần diễn biến đối tượng thực hiện hành vi phạm tội (thu giữ từ chị Phạm Thị Minh P);
- - 01 đôi bông tai bằng kim loại, màu vàng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A38, màu vàng đồng, số IMEI: 869511060752256 (thu giữ từ Nguyễn Thị Lê L);
- - 01 nhẫn bằng kim loại, màu vàng, gắn hột đá màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu OPPO A79 5G, màu tím nhạt, số IMEI: 862774065235118 (Thu giữ từ Huỳnh Thanh H);
- - Số tiền 20.000.000 đồng (do Nguyễn Thị Lê L và Huỳnh Thanh H tự nguyện giao nộp để bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho chị Minh P);
- - Số tiền 24.000.000 đồng (do anh Đỗ Văn Đ tự nguyện giao nộp).
Nguyễn Thị Lê L khai nhận toàn bộ 9.000 USD mà L đã trộm cắp đều mang đến tiệm V1, địa chỉ số B đường T, phường H, quận H, TP . để bán, quy đổi ra tiền Việt Nam. Tuy nhiên, theo chị H1 - chủ hiệu vàng Ngọc Vân K khai thì chị H1 không thu mua ngoại tệ của bất kỳ ai, do tiệm vàng của chị H1 không được cấp phép kinh doanh ngành nghề mua bán ngoại tệ. Cơ quan CSĐT Công an quận S yêu cầu chị H1 cung cấp camera ghi nhận hình ảnh giao dịch hằng ngày tại cửa hàng nhưng không thu thập được do dữ liệu camera chỉ lưu trữ trong thời gian ngắn.
Về bồi thường dân sự: Chị P yêu cầu bồi thường số tiền 252.400.000 đồng. Anh Đỗ Văn Đ không yêu cầu bồi thường.
* Lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được công bố tại phiên tòa có nội dung phù hợp với lời khai của các bị cáo.
Cáo trạng số 130/CT-VKS-ST ngày 06/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Lê L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo Huỳnh Thanh H về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lê L về phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo Huỳnh Thanh H phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự, đồng thời đề nghị:
- - Áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lê L từ 06 năm tù đến 07 năm tù.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh H từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách.
* Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 584, 586 và 589 BLDS: Buộc Nguyễn Thị Lê L phải tiếp tục bồi thường cho chị Phạm Thị Minh P số tiền 252.400.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 41 BLHS; khoản 2 Điều 76 BLTTHS;
Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD-R màu vàng, lưu trữ dữ liệu trích sao camera an ninh ghi nhận một phần diễn biến đối tượng thực hiện hành vi phạm tội.
Tiếp tục quy trữ số tiền 44.000.000 đồng đã thu giữ của các bị cáo và người liên quan để chi trả cho bị hại (Số tiền này đã được nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự quận Sơn Trà).
Tiếp tục quy trữ toàn bộ tài sản đã thu giữ của các bị cáo để đảm bảo thi hành án cho bị hại, cụ thể: 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A38, màu vàng đồng, số IMEI: 869511060752256 của Nguyễn Thị Lê L; 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A79 5G, màu tím nhạt, số IMEI: 862774065235118 của Huỳnh Thanh H; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong của Cơ quan CSĐT Công an quận S, bên ngoài có chữ ký ở mép dán của Huỳnh Thanh H, bên trong có 01 (Một) chiếc nhẫn bằng kim loại, màu vàng; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong của Cơ quan CSĐT Công an quận S, bên ngoài có dấu điểm chỉ ngón trỏ phải của Nguyễn Thị Lê L, bên trong có 01 (Một) đôi bông tại bằng kim loại, màu vàng.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Các bị cáo không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của của các bị cáo:
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thị Lê L: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo Huỳnh Thanh H: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng như các chứng cứ, tài liệu khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy: Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2024 đến tháng 5/2024, tại số nhà B đường H, phường A, quận S, TP ., Nguyễn Thị Lê L đã thực hiện 20 lần hành vi trộm cắp tài sản với tổng số tiền 10.000 USD có giá trị 252.400.000 đồng của chị Phạm Thị Minh P. Trong số tiền trộm cắp được, Nguyễn Thị Lê L có đưa cho Huỳnh Thanh H số tiền 1.000 USD. Mặc dù H biết số tiền này do L trộm cắp mà có nhưng H vẫn đem đi quy đổi tiền Việt thành 25.600.000 đồng để tiêu xài số tiền này. Do đó, HĐXX, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị Lê L về phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo Huỳnh Thanh H phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Quyền sở hữu về tài sản của công dân là bất khả xâm phạm cần phải được pháp luật bảo vệ, thế nhưng trong thời gian qua trên địa bàn quận S thường hay xảy ra các vụ trộm cắp tài sản gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội và gây lo lắng trong nhân dân. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
[4]. Xét vai trò và nhân thân của các bị cáo thì thấy:
[4.1]. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Lê L là người trực tiếp thực hiện 20 lần hành vi trộm cắp số tiền 10.000 USD có giá trị 252.400.000 đồng của chị Phạm Thị Minh P. Trong 20 lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên. Do đó, HĐXX cần vận dụng điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, lên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn rõ ràng, tỏ ra biết ăn năn hối cải; đã bồi thường một phần thiệt hại để khắc phục hậu quả cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4.2]. Đối với bị cáo Huỳnh Thanh H mặc dù biết rõ số tiền 1.000 USD có giá trị 25.600.000 đồng là do bị cáo L trộm cắp mà có. Lẽ ra, bị cáo phải khuyên can nhằm ngăn chặn hành vi của vợ mình mới đúng, nhưng với ý thức xem thường pháp luật, lười lao động, ham hưởng thụ nên khi được vợ giao cho số tiền trên, bị cáo đã sử dụng hết cho nhu cầu cá nhân, nên cần phải xử phạt mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trong vụ án này vợ bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, kéo theo bị cáo vào cuộc, nên cả hai phải đón nhận hình phạt thích đáng cho bản thân - gia đình sẽ lâm vào hoàn cảnh khó khăn, không ai chăm sóc hai con nhỏ. Để tạo điều kiện cho bị cáo cơ hội được chăm sóc các con nhỏ khi vợ phải chấp hành hình phạt tù, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, hành vi và mức độ phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng và tác động anh Đỗ Văn Đ nộp lại số tiền 24.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả thay cho vợ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi thường trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dục giáo dục. Điều này thể hiện tính nhân văn, nhân đạo và chính sách khoan hồng của pháp luật dành cho bị cáo.
[5] Đối với đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS cho bị cáo Nguyễn Thị Lê L được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa thì thấy: Mặc dù bị cáo L có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, tuy nhiên với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên việc cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không đủ sức răn đe. HĐXX không chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
[6.1] Tại phiên tòa, bị hại chị Phạm Thị Minh P vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện yêu cầu bị cáo L phải bồi thường số tiền 252.400.000 đồng. Xét yêu cầu của chị P hoàn toàn chính đáng, phù hợp với quy định tại Điều 48 BLHS; Điều 584, 586 và 589 BLDS nên cần chấp nhận. Buộc Nguyễn Thị Lê L phải có trách nhiệm trả cho chị P số tiền 252.400.000 đồng.
[6.1] Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Văn Đ vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện không yêu các bị cáo L và H bồi thường nên HĐXX không đề cập đến.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] Đối với 01 đĩa CD-R màu vàng, lưu trữ dữ liệu trích sao camera an ninh ghi nhận một phần diễn biến đối tượng thực hiện hành vi phạm tội tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
[7.2] Đối với số tiền 44.000.000 đồng. Trong đó 10.000.000 đồng do bị cáo L nộp; 10.000.000 đồng do bị cáo H nộp thay cho bị cáo L và 24.000.000 đồng anh Đỗ Văn Đ tự nguyện giao nộp - để khắc phục hậu quả cho bị hại nên cần tiếp tục quy trữ đề đảm bảo thi hành án.
[7.3] Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A38, màu vàng đồng, số IMEI: 869511060752256 của Nguyễn Thị Lê L; 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A79 5G, màu tím nhạt, số IMEI: 862774065235118 của Huỳnh Thanh H; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong của Cơ quan CSĐT Công an quận S, bên ngoài có chữ ký ở mép dán của Huỳnh Thanh H, bên trong có 01 (Một) chiếc nhẫn bằng kim loại, màu vàng; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong của Cơ quan CSĐT
Công an quận S, bên ngoài có dấu điểm chỉ ngón trỏ phải của Nguyễn Thị Lê L, bên trong có 01 (Một) đôi bông tại bằng kim loại, màu vàng – Đây là tài sản bị cáo L đã dùng tiền trộm cắp được của bị hại để mua, nên tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
(Toàn bộ số vật chứng này hiện nay do Chi cục Thi hành án quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/11/2024).
[8] Đối với chị Trần Thị Thu H1, do đến nay không có chứng cứ xác định việc chị H1 thực hiện hành vi mua bán ngoại tệ với Nguyễn Thị Lê L nên Cơ quan CSĐT Công an quận S không đề cập xử lý chị H1 là phù hợp.
[9] Án phí HS-ST: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
[10] Án phí DS- ST: Nguyễn Thị Lê L phải chịu: 12.620.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Lê L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Lê L 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thanh H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/11/2024).
Giao bị cáo Huỳnh Thanh H về UBND phường B, quận H, TP . giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 BLHS; Điều 584, 586 và 589 BLDS:
Buộc Nguyễn Thị Lê L phải tiếp tục bồi thường cho chị Phạm Thị Minh P số tiền 252.400.000 đồng (Hai trăm năm mươi hai triệu bốn trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày chị Phạm Thị Minh P yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng Nguyễn Thị Lê L còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 41 BLHS; khoản 2 Điều 76 BLTTHS;
4.1 Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD-R màu vàng, lưu trữ dữ liệu trích sao camera an ninh ghi nhận một phần diễn biến đối tượng thực hiện hành vi phạm tội.
4.2 Tiếp tục quy trữ số tiền 44.000.000 đồng đã thu giữ của các bị cáo và người liên quan để đảm bảo thi hành án cho bị hại.
4.2 Tiếp tục quy trữ toàn bộ tài sản đã thu giữ của các bị cáo để đảm bảo thi hành án cho bị hại, cụ thể: 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A38, màu vàng đồng, số IMEI: 869511060752256 của Nguyễn Thị Lê L; 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A79 5G, màu tím nhạt, số IMEI: 862774065235118 của Huỳnh Thanh H; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong của Cơ quan CSĐT Công an quận S, bên ngoài có chữ ký ở mép dán của Huỳnh Thanh H, bên trong có 01 (Một) chiếc nhẫn bằng kim loại, màu vàng; 01 (Một) phong bì đã được niêm phong của Cơ quan CSĐT Công an quận S, bên ngoài có dấu điểm chỉ ngón trỏ phải của Nguyễn Thị Lê L, bên trong có 01 (Một) đôi bông tại bằng kim loại, màu vàng.
(Toàn bộ số vật chứng này hiện nay do Chi cục Thi hành án quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 07/11/2024).
5. Án phí HS-ST: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Các bị cáo Nguyễn Thị Lê L và Huỳnh Thanh H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).
6. Án phí DS- ST: Nguyễn Thị Lê L phải chịu 12.620.000 đồng (Mười hai triệu sáu trăm hai mươi ngàn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
(HĐXX đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Huỳnh Thanh H).
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Đông Thanh |
Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ –TP. ĐÀ NẴNG về hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 137/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ –TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 19/11/2024, TAND quận S tuyên xử bị cáo Nguyễn Thị Lê L về hành vi trộm cắp tài sản và Huỳnh Thanh H về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
