Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 137/2024/HS-ST

Ngày 07-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Công Định

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lãnh Văn Việt

Ông Tống Đăng Mạnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 127/2024/TLST - HS, ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Ngô Văn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1982 tại: xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; HKTT: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 09/10; Con ông Ngô Văn S1, sinh năm 1947 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1937; Vợ: Lượng Thị N1, sinh năm 1984; Con: 02 con, con lớn sinh năm 2004, con bé sinh năm 2006;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 167/2014/HSPT ngày 27/3/2014 của Tòa án nhân dân tối cao xử phạt Ngô Văn S 06 năm tù về tội “Mua bán người”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 01/8/2012 đến 07/02/2013), Ngô Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 200.000 đồng án phí HSPT. Tháng 07/2014 S đã chấp hành xong tiền án phí, ngày 01/9/2022 chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội mới bị cáo chưa được xóa án tích.

1

Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa

2. Họ và tên: An Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1969 tại huyện K, tỉnh Hưng Yên; HKTT: TDP T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 06/10; Con ông An Văn L, đã chết và con bà Đào Thị P, đã chết; Vợ: Đặng Thị N2, sinh năm 1971; Con: 02 con, con lớn sinh năm 1992, con bé sinh năm 1995;

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 71/2011/HSST ngày 29/9/2011 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt An Văn H 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”, An Văn H phải chịu 200.000đ án phí HSST. Ngày 21/12/2011, H đã chấp hành xong tiền án phí. Tính đến thời điểm phạm tội bị cáo đã được xoá án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương. (có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1985 (có mặt);

Địa chỉ: TDP T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Nguyễn Hữu N3, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang

  • Anh Ngô Văn B, sinh năm 1985 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

  • Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1987 (vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

  • Anh Phạm Hồng K, sinh năm 1974 (vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người làm chứng:

  • Anh Phùng Văn H1, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Địa chỉ: TDP T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/3/2023, Ngô Văn S, sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến cửa hàng mua bán xe ô tô cũ của anh Phạm Văn T, sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L thuê 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại: VIOS, loại xe: ô tô con, màu đen, biển kiểm soát 98A-024.40 với mục đích đi lại phục vụ công việc cá nhân. Nguồn gốc chiếc xe trên do anh T mua lại của anh Nguyễn Hữu N3, sinh năm 1975, trú tại thôn T, xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Anh T và S viết “Giấy mượn xe” đề ngày 29/3/2023, thoả thuận giá thuê xe 500.000đ/ngày, thời hạn thuê xe đến 01/5/2023, S ký vào mục “Người mượn xe”. Sau đó anh T giao xe và giấy tờ xe gồm 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 008093, tên chủ xe Nguyễn Hữu N3, biển số đăng ký 98A - 024.40; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số DA 3307894; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số GCNBH: 22BB 220151637 cho S. Khi anh T và S đang thoả thuận thuê xe thì anh Phùng Văn H1, sinh năm 1975, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L là hàng xóm của anh T có sang chơi một lúc nên sau đó anh T có nhờ anh H1 ký vào mục người làm chứng ở “Giấy mượn xe”. Đến ngày 01/5/2023, anh T chưa thấy S mang xe đến trả nên đã liên lạc với S để yêu cầu trả xe thì S nói vẫn có nhu cầu tiếp tục thuê chiếc xe trên, nên T có đồng ý cho S tiếp tục thuê. Hai bên thoả thuận giá thuê xe như trên, thời gian thuê xe không cố định, cứ hết thời gian thuê một tháng mà S trả tiền thuê xe cho anh T thì vẫn có thể tiếp tục cho thuê. Việc thoả thuận gia hạn thời hạn thuê xe giữa anh T và S chỉ thoả thuận bằng miệng, không lập bằng văn bản.

Khoảng cuối tháng 5/2023, khi S đang ở nhà tại xã T, huyện L do thiếu tiền chi tiêu nên đã nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe ô tô đã thuê của anh T trên để lấy tiền chi tiêu. Khoảng đầu tháng 06/2023, S đến cửa hàng vàng bạc của An Văn H, sinh năm 1969, ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang để chuyển tiền, tại đây S có nói chuyện với H về việc S có một chiếc xe ô tô cũ hỏi H có nhận cầm cố xe không; H bảo S mang xe cùng giấy tờ đến. Ngày 06/6/2023, S điều khiển chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A-024.40 đến nhà H rồi đưa giấy tờ xe cho H xem. Sau khi kiểm tra xe và giấy tờ xong, H thoả thuận nhận cầm cố xe của S trong thời hạn 4 tháng với số tiền 60.000.000 đồng, hàng tháng S phải trả Hồng 3.600.000 đồng tiền trông giữ, bảo dưỡng xe, nhưng nếu S không thực hiện đúng cam kết thì coi như S bán xe cho H. Do vậy H và S thoả thuận viết một “Giấy biên nhận vay tiền” đề ngày 06/6/2023 với nội dung Sáu vay của H 60.000.000 đồng, tài sản thế chấp là xe ô tô biển kiểm soát 98A-024.40, đồng thời viết một “Giấy bán xe ô tô” đề ngày 06/6/2023 với nội dung Sáu bán cho H xe ô tô biển kiểm soát 98A-024.40, S ký vào mục “Người bán”. Sau khi mua xe từ S, H mang xe đi tu sửa hết số tiền

3

10.000.000 đồng. Khoảng đầu tháng 01/2024, H đã mang chiếc xe trên gửi nhờ ở cửa hàng mua bán xe ô tô cũ mới K có địa chỉ tại thôn N, xã K, huyện L, nhờ anh Phạm Hồng K, sinh năm 1974, trú tại thôn L, xã B, huyện L là chủ cửa hàng bán hộ xe, khi nào có khách đến hỏi mua xe thì anh K sẽ gọi cho H mang giấy tờ xe đến để làm thủ tục.

Đến khoảng giữa tháng 6/2023, anh T gọi điện, nhắn tin với S đòi xe thì được S nói cho biết đã mang xe đi cầm cố, S xin anh T cho khắc phục hậu quả, hai bên thỏa thuận S sẽ phải trả cho T số tiền 130.000.000 đồng, bao gồm tiền giá trị chiếc xe và tiền thuê xe. Từ khi thuê xe đến ngày 13/10/2024, S đã trả anh T được tổng số tiền 85.000.000 đồng.

Sáng ngày 06/02/2024, anh T và anh Phùng Văn H1, sinh năm 1975 trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L cùng nhau đi thành phố B để giải quyết công việc, khi đi qua cửa hàng mua bán ô tô cũ K, anh T phát hiện chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A - 024.40 của mình đang để ở đây. Anh T giả làm khách mua xe, hỏi anh K muốn mua chiếc xe ô tô biển số 98A - 024.40 trên thì anh K bảo xe này của khách gửi, sau đó anh K gọi điện cho H mang giấy tờ xe ra cho anh T xem. H mang giấy tờ xe và “Giấy biên nhận vay tiền” và “Giấy bán xe” cùng đề ngày 06/6/2023 đến cửa hàng cho anh T kiểm tra, anh T dùng điện thoại của mình chụp lại hình ảnh “Giấy bán xe” và “Giấy biên nhận vay tiền”. Sau khi xem xong, anh T nói với H "để cân nhắc rồi liên lạc lại" và cùng anh H1 đi về nhà. Đến chiều ngày 06/02/2024, anh T gọi điện cho H thông báo chiếc xe trên là xe của anh T, do S thuê của anh T2 và bán cho H. Sau đó H đã liên lạc với S hỏi nguồn gốc chiếc xe ô tô trên thì được biết chiếc ô tô trên không phải của S, mà do S thuê của anh T. H bảo S đến chuộc xe về trả cho anh T, nhưng do S không có khả năng chuộc lại xe nên H tiếp tục thông báo cho S là sẽ bán xe ô tô trên. Do lo sợ chiếc xe trên liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nếu bị thu giữ sẽ bị thiệt hại số tiền bỏ ra mua xe, nên H vẫn tiếp tục để xe tại cửa hàng K2 để bán nhằm thu hồi vốn nhưng H không nói cho anh K biết nguồn gốc chiếc xe trên do phạm tội mà có.

Ngày 27/4/2024, anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1987, trú tại thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang đến cửa hàng mua bán ô tô cũ K để tìm mua xe thì được giới thiệu xe ô tô biển số 98A - 024.40. H nói cho anh T1 biết chiếc xe trên là của H, anh T1 và H thoả thuận giá mua bán xe là 65.000.000 đồng, anh T1 trả trước cho H số tiền 45.000.000 đồng và nợ số tiền còn lại, hẹn ngày 10/5/2024 sẽ thanh toán nốt. Anh T1 và H thoả thuận viết “Giấy bán xe” đề ngày 27/4/2024, nội dung giấy mua bán do H nhờ một người khách không quen biết ở cửa hàng K2 viết hộ, anh T1 ký vào mục “Người mua”. Do anh T1 chưa trả hết số tiền còn lại nên H giữ lại giấy tờ xe. Đến nay, T1 vẫn chưa trả số tiền 20.000.000 đồng còn nợ lại cho H như đã thỏa thuận. Ngày 02/5/2024, anh T1 điều khiển xe ô tô trên đến Gara ô tô thuộc thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang để sửa chữa thì anh T phát hiện nên đã trình báo vụ việc đến Cơ quan điều tra.

4

Ngày 02/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tạm giữ của anh Hoàng Văn T1: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, biển kiểm soát: 98A-024.40; 01 (một) Giấy bán xe đề ngày 27/4/2024 (BL 53; 511). Ngày 03/5/2024, anh Phạm Văn T giao nộp: 01 (một) “Giấy mượn xe” đề ngày 29/3/2023 (BL 167). Ngày 22/5/2024, An Văn H giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 008093, biển số đăng ký: 98A - 024.40 (bản gốc); 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA 3307894, biển số đăng ký: 98A - 024.40 (bản gốc); 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số GCNBH: 22BB 220151637 (bản gốc); 01 (một) giấy bán xe ô tô đề ngày 6/6/2023 (bản gốc); 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên An Văn H (bản phô tô), đối với một “Giấy biên nhận vay tiền” đề ngày 06/6/2023 H khai đã làm mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được (BL 455). Ngày 24/5/2024, Ngô Văn S giao nộp: 01 (một) chiếc điện thoại di động Xiaomi Redmi Note 10 5G màu trắng bạc.

Ngày 24/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra yêu cầu định giá tài sản đối với tài sản bị chiếm đoạt. Tại bản kết luận định giá tài sản số 53 ngày 24/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại: VIOS, loại xe: ô tô con, màu sơn: Đen, biển kiểm soát 98A - 024.40 có giá trị ở thời điểm bị chiếm đoạt là 82.000.000 đồng.

Ngày 26/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết, chữ số trong "Giấy mượn xe" đề ngày 29/3/2023 (ký hiệu A1), "Giấy bán xe ô tô" đề ngày 06/6/2023 (ký hiệu A2), "Giấy bán xe" đề 27/4/2024 (ký hiệu A3). Tại bản kết luận giám định số 1512 ngày 11/7/2024 của Phòng K3 (PC09) Công an tỉnh B kết luận:

  1. Chữ ký, chữ viết mang tên Phùng Văn H1 dưới mục "Người làm chứng" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ ký, chữ viết của Phùng Văn H1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M15 đến M18) là do cùng một người ký, viết ra.
  2. Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Sáu - Ngô Văn S" dưới các mục "Người mượn xe", "Người bán" trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với chữ ký, chữ viết của Ngô Văn S trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M8 đến M14) là do cùng một người ký, viết ra.
  3. Chữ ký, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1 - trừ chữ ký, chữ viết mang tên Phùng Văn H1 và chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung "Sáu - Ngô Văn S" dưới các mục ""Người làm chứng", "Người mượn xe") so với chữ ký, chữ viết của Phạm Văn T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M7) là do cùng một người ký, viết ra.

5

  1. Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2- trừ chữ viết có nội dung "6 - 6 - 3" tại mục "ngày ...tháng ...năm 202..." và chữ ký, chữ viết có nội dung "Sáu - Ngô Văn S" dưới mục "Người bán") so với chữ ký, chữ viết của An Văn H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M19 đến M25) là do cùng một người ký, viết ra.

- Phòng K3 không kết luận chữ viết có nội dung "6 - 6 3” tại mục "ngày ...tháng ...năm 202..." trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2) so với chữ việt của An Văn H và Ngô Văn S trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M8 đến M14, từ M19 đến M25) do chữ viết cần giám định ít đặc điểm, không đủ điều kiện truy nguyên.

  1. Chữ ký, chữ viết mang tên Hoàng Văn T1 dưới mục "Người mua" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3) so với chữ ký, chữ viết của Hoàng Văn T1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M26 đến M29) là do cùng một người ký, viết ra.

- Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3 - trừ chữ ký, chữ viết mang tên Hoàng Văn T1 dưới mục "Người mua") so với chữ ký, chữ viết của An Văn H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M19 đến M25) là không phải do cùng một người ký, viết ra.”

Ngày 24/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành kiểm tra điện thoại di động của Ngô Văn S và anh Phạm Văn T. Kết quả kiểm tra điện thoại của S không phát hiện nội dung gì; kiểm tra điện thoại của anh T phát hiện một số tin nhắn giữa anh T và S liên quan đến việc anh T đòi xe ô tô và S xin khắc phục hậu quả từ việc bán xe ô tô, hình ảnh “Giấy bán xe ô tô”, “Giấy biên nhận vay tiền” cùng đề ngày 06/6/2023.

Ngày 22/5/2024, 06/8/2024 và 09/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành kiểm tra điện thoại di động của An Văn H, kết quả xác định có các nội dung tin nhắn giữa H và S về các nội dung liên quan đến việc H thông báo cho S biết về việc anh T đang đòi xe, bảo S chuộc xe trả cho anh T và đề nghị được bán xe của anh T.

Đối với anh Phạm Hồng K và anh Hoàng Văn T1: Khi anh K được H nhờ bán hộ xe và khi anh T1 mua xe thì đều không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh anh K1, anh T1 là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 14/10/2024, anh Ngô Văn B là em trai bị cáo S đã đứng ra bồi thường cho anh Phạm Văn T số tiền 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng). Tổng số tiền anh T nhận là 130.000.000 đồng.

Ngày 07/11/2024 anh T, anh B, anh T1 cung cấp cho Tòa án giấy biên nhận tiền cụ thể:

6

- Anh Phạm Văn T đã thanh toán trả lại cho bị cáo Ngô Văn S do anh Ngô Văn B là em trai nhận số tiền 82.000.000 đồng trị giá chiếc xe ô tô như định giá tài sản, còn số tiền 48.000.000 đồng bị cáo S trả anh T là tiền thiệt hại do anh T không sử dụng được xe ô tô của anh T trong thời gian bị cáo S sử dụng và trong thời gian tạm giữ. Giữa anh T, bị cáo S do anh B đứng ra đại diện đã tự thỏa thuận xong.

- Bị cáo S do anh Ngô Văn B là em trai đã thanh toán trả cho bị cáo An Văn H số tiền 60.000.000 đồng.

- Bị cáo An Văn H đã thanh toán trả lại cho anh Hoàng Văn T1 số tiền 45.000.000 đồng.

Anh T, bị cáo S, anh B, bị cáo H, anh T1 không yêu cầu HĐXX xem xét giải quyết về dân sự.

Về vật chứng vụ án: Vật chứng gồm 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, biển kiểm soát 98A-024.40; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 008093, biển số đăng ký 98A - 024.40; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA 3307894, biển số đăng ký: 98A-024.40; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số GCNBH: 22BB 220151637; 01 điện thoại di động X 10 5G màu trắng bạc chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, bị cáo An Văn H đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng tiền thu lời bất chính vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn theo biên lai thu số 0002387 ngày 31/10/2024.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Ngô Văn S, bị cáo An Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Ngô Văn S thừa nhận hành vi lạm dụng chiếm đoạt tài sản của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo An Văn H thừa nhận hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo H xác định số tiền 5.000.000 đồng bị cáo H nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện L là tiền thu lời bất chính của bị cáo H, bị cáo H đề nghị HĐXX sung công quỹ Nhà nước số tiền này.

Tại phiên toà bị cáo S, bị cáo H, anh T, anh B thống nhất về trách nhiệm dân sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S, bị cáo H.

Tại phiên tòa anh Phạm Văn T3 xin nhận lại chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, biển kiểm soát 98A-024.40 và 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 008093, biển số đăng ký 98A - 024.40; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA 3307894, biển số đăng ký: 98A-024.40; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số GCNBH: 22BB 220151637.

7

Bị cáo S và anh B đều thừa nhận năm 2022 anh B đi chấp hành án có gửi bị cáo S giữ hộ điện thoại Xiaomi Redmi Note 10 5G màu trắng bạc của anh B. Nay anh B có ý kiến xin lại điện thoại di động X 10 5G màu trắng bạc vì việc bị cáo S sử dụng điện thoại trên vào việc phạm tội anh B không biết.

Cáo trạng số 139/CT-VKSLN ngày 15/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố: Bị cáo Ngô Văn S về tội “Lạm dụng chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự; bị cáo An Văn H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Ngô Văn S và bị cáo An Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Ngô Văn S phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tuyên bố bị cáo An Văn H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

  1. Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của BLHS.

Xử phạt Ngô Văn S từ 02 đến 04 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/05/2024.

Phạt bổ sung 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

  1. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS

Xử phạt An Văn H từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tính từ ngày xét xử sơ thẩm.

Phạt bổ sung 5.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Giao bị cáo An Văn H cho U Ngô giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách

Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự tự giải quyết với nhau không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

Hoàn trả anh Phạm Văn T 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, biển kiểm soát 98A-024.40; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 008093, biển số đăng ký 98A - 024.40; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA 3307894, biển số đăng ký: 98A-024.40; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số GCNBH: 22BB 220151637.

Trả lại anh Ngô Văn B 01 điện thoại di động Xiaomi Redmi Note 10 5G màu trắng bạc.

8

Sung công quỹ Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng bị cáo An Văn H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn theo biên lai thu số 0002387 ngày 31/10/2024.

Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị giải quyết về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về những chứng cứ xác định bị cáo Ngô Văn S, bị cáo An Văn H có tội, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phù hợp với tang vật thu giữ được về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 29/3/2023, tại cửa hàng mua bán ô tô của anh Phạm Văn T ở tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Ngô Văn S thuê 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, biển kiểm soát 98A-024.40 của anh T để đi lại. Sau khi thuê được xe, khoảng cuối tháng 5/2023, S nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe trên để lấy tiền chi tiêu. Ngày 06/6/2023, tại nhà An Văn H ở tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Ngô Văn S có hành vi cầm cố chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A-

9

024.40 cho An Văn H khi không được sự đồng ý của anh T, sau đó không có khả năng chuộc lại xe cho anh T. Ngày 27/4/2024, sau khi biết chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98A-024.40 là tài sản do Ngô Văn S phạm tội mà có, H đã có hành vi bán chiếc xe ô tô trên cho anh Hoàng Văn T1 với giá 65.000.0000 đồng (Sáu mươi lăm triệu đồng chẵn) tại cửa hàng K2 ở thôn N, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 82.000.000 đồng (T4 mươi hai triệu đồng chẵn); số tiền thu lợi bất chính của H là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng chẵn).

Như vậy, Bị cáo Ngô Văn S khi thực hiện hành vi phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, bị cáo An Văn H khi thực hiện hành vi phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” đều là người đủ tuổi, đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tội và hình phạt được quy định tại Điều 175 và Điều 323 Bộ luật hình sự. Việc bị cáo S, bị cáo H bị truy tố, xét xử ngày hôm nay với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo S, bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử lý về hình sự để giáo dục bị cáo trở thành công dân biết tuân thủ pháp luật.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ngô Văn S có 01 tình tiết tăng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là “Tái phạm”. Bị cáo An Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Ngô Văn S, bị cáo An Văn H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Ngô Văn S đã bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 cho bị cáo Ngô Văn S. Bị cáo An Văn H sau khi phạm tội đã nộp nộp tiền thu lời bất chính vào Chi cục THADS huyện L, anh Phạm Văn T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 cho bị cáo An Văn H.

Từ những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án HĐXX xét thấy:

Bị cáo Ngô Văn S có tiền án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội mới, do đó, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để cải

10

tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng chống loại tội phạm này nói chung.

Bị cáo An Văn H năm 2011 đã bị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang kết tội “Cố ý gây thương tích” với mức hình phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, bị cáo đã chấp hành án xong và đã được xóa án tích, bản thân bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Căn cứ quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 2, Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự và Điều 01 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi bổ sung một số Điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xét thấy bị cáo H có đủ điều kiện được hưởng án treo và chỉ cần cho bị cáo tự cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người biết tuân thủ pháp luật, sống có ích cho gia đình và xã hội. Mặt khác việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy đề nghị của Viện kiểm sát về việc cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có nghề nghiệp và có tài sản nên HĐXX không áp dụng khoản 5 Điều 175 để phạt bổ sung cho bị cáo S và khoản 5 Điều 323 để phạt bổ sung với bị cáo H như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ chấp nhận.

[6] Đối với anh Phạm Hồng K và anh Hoàng Văn T1: Khi anh K được H nhờ bán hộ xe và khi anh T1 mua xe thì đều không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh anh K1, anh T1 là có căn cứ

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, biển kiểm soát 98A-024.40; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 008093, biển số đăng ký 98A - 024.40; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA 3307894, biển số đăng ký: 98A-024.40; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số GCNBH: 22BB 220151637 là tài sản của anh Phạm Văn T. Tại phiên tòa anh T xin nhận lại những tài sản trên nên căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS trả lại cho anh Phạm Văn T.

Đối với 01 điện thoại di động X 10 5G màu trắng bạc tại phiên tòa xác định là tài sản riêng của anh Ngô Văn B, việc bị cáo Ngô Văn S xử dụng vào mục đích phạm tội anh N4 không biết. Tại phiên tòa anh Ngô Văn B có đề nghị xin lại nên HĐXX căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS trả lại cho anh Ngô Văn N5.

11

Đối với số tiền 5.000.000 đồng bị cáo An Văn H tự nguyện nộp tại Chi cục T5 hánh án dân sự huyện L ngày 31/10/2024 theo biên lai thu tiền số 0002387. Tại phiên tòa bị cáo H tự nguyện nộp số tiền trên vào công quỹ Nhà nước nên căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS sung công quỹ nhà nước số tiền này.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết việc dân sự và không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó, HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo Ngô Văn S, bị cáo An Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 5 Điều 175 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Ngô Văn S 02 (Hai) năm 04 (B1) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/05/2024.

Phạt bổ sung 10.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

  1. Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt An Văn H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung 5.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Giao bị cáo An Văn H cho U Ngô, huyên L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Luật thi hành án hình sự.

12

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

Hoàn trả anh Phạm Văn T 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS, biển kiểm soát 98A-024.40; 01 (một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số 008093, biển số đăng ký 98A - 024.40; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: DA 3307894, biển số đăng ký: 98A-024.40; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số GCNBH: 22BB 220151637

Trả lại anh Ngô Văn B 01 điện thoại di động Xiaomi Redmi Note 10 5G màu trắng bạc.

Sung công quỹ Nhà nước số tiền 5.000.000 đồng bị cáo An Văn H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn theo biên lai thu số 0002387 ngày 31/10/2024.

  1. Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 136 BLHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ngô Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

Bị cáo An Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Bị cáo;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Công Định

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 137/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo S phạm tội "Lạm dụng tính nhiệm chiếm đoạt tài sản"....
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger