|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2024/HSST.
Ngày 29/10/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thanh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Thắng.
- Bà Trần Thị Dinh.
- - Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Thuỳ – Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở nhà đa năng Trường trung học cơ sở H, xã H, thành phố L, tỉnh Lào Cai, mở phiên toà công khai, xét xử sơ thẩm lưu động, vụ án hình sự thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Đức T - Sinh ngày 01/9/1984, tại thành phố L, tỉnh Lào Cai; Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Tổ A, phường P, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đỗ Duy N – Sinh năm 1955 (Đã chết) và bà Từ Thị Kim N1 – Sinh năm 1957. Bị cáo có vợ là Phạm Hải Y – Sinh năm 1986 (Đã ly hôn). Bị cáo có 01 con, sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt. Bị cáo Đỗ Đức T bị bắt tạm giữ từ ngày 19/6/2024, hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai, (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ, ngày 19/6/2024, Đỗ Đức T nảy sinh ý định đi mua ma túy về để sử dụng nên đã gọi điện thoại qua mạng xã hội Zalo cho một người nam giới tên V hỏi mua 200.000VNĐ chất ma túy hồng phiến. Người nam giới tên V đồng ý bán và hẹn Đỗ Đức T ra khu vực ngã tư gác chắn đường sắt giữa đường đi khu công nghiệp Đ và đường đi Đền C, thuộc phường L, thành phố L để giao ma túy. Sau khi gọi điện thoại, Đỗ Đức T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24K2 - 1474 đi từ nhà đến điểm hẹn. Khi đi đến
nơi Đỗ Đức T gọi điện thoại cho người nam giới tên V, khoảng 05 phút sau thì người nam giới tên V đi bộ đến, V bảo Đỗ Đức T chở V về Km6, quốc lộ G, thuộc xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai, Đỗ Đức T đồng ý. Trên đường đi V đưa cho Đỗ Đức T 01 lọ nhựa chứa 06 viên ma túy Hồng phiến, Đỗ Đức T cầm lọ nhựa chứa ma túy bằng tay phải, rồi lấy 200.000VNĐ đưa cho V. Khi đi đến Km6, quốc lộ G, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai, V xuống xe đi đâu không rõ, Đỗ Đức T điều khiển xe đi về nhà. Khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày khi Đỗ Đức T đi đến khu vực đường T, thuộc tổ H, phường N, thành phố L thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố L phát hiện bắt quả tang. Quá trình kiểm tra, do hoảng sợ Đỗ Đức T đã thả lọ nhựa chứa chất ma túy mang theo từ lòng bàn tay phải xuống đất tại vị trí Đỗ Đức T đang đứng. Tổ công tác đã yêu cầu Đỗ Đức T đã tự giác nhặt lọ nhựa có nắp vặn chứa ma túy từ dưới đất nơi vị trí Đỗ Đức T đang đứng lên giao nộp cho tổ công tác, Đỗ Đức T khai nhận 05 viên nén hình tròn, màu hồng và 01 viên nén hình tròn, màu xám là chất ma túy hồng phiến Đỗ Đức T mua để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra còn tạm giữ của Đỗ Đức T 01 xe mô tô nhãn hiệu DEALIM, biển kiểm soát 24K2 – 1474, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S, gắn 01 thẻ sim đã qua sử dụng.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong ngày 19/6/2024 và kết luận giám định số: 253/KL-GĐMT ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, xác định: Vật chứng 05 viên nén hình tròn, màu hồng, 01 viên nén hình tròn, màu xám có đặc điểm giống nhau, trên một mặt của mỗi viên đều được dập chìm ký tự “WY” thu giữ khi bắt quả tang của Đỗ Đức T ngày 19/6/2024 gửi giám định có khối lượng 0,592 gam là loại chất ma túy Methamphetamine.
Bản cáo trạng số: 127/CT-VKS ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, truy tố bị cáo Đỗ Đức T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Lời khai nhận của bị cáo Đỗ Đức T tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Đức T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Đức T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Đức T. Ngoài ra còn đề nghị tuyên án phí hình sự sơ thẩm, xử lý vật chứng và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Đỗ Đức T không có ý kiến tranh luận với nội dung bản luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử; Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố; Thư ký phiên tòa, đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Do nghiện chất ma túy, ngày 19/6/2024 bị cáo Đỗ Đức T đã có hành vi mua và cất giấu 0,592 gam chất ma tuý Methamphetamine trên người với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo Đỗ Đức T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, truy tố bị cáo Đỗ Đức T theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Đức T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn về ma tuý trên địa bàn thành phố L, tỉnh Lào Cai. Bị cáo Đỗ Đức T nhận biết rõ Methamphetamine là chất ma túy mà pháp luật nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng, vận chuyển.v.v. Nhưng là người sử dụng ma túy, nên bị cáo Đỗ Đức T không có ý thức chấp hành pháp luật. Vì vậy, đối với bị cáo Đỗ Đức T cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Đỗ Đức T đã thật thà khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét khi lượng hình đối với bị cáo, theo quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nguồn gốc số chất ma túy Methamphetamine, theo lời khai của bị cáo Đỗ Đức T đã mua 0,592 gam ma túy là chất Methamphetamine của người nam giới tên là V không quen biết tại khu vực khu công nghiệp Đ, phường L, thành phố L. Ngoài lời khai của bị cáo Đỗ Đức T không còn tài liệu nào khác để chứng minh. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý đối với đối tượng bán chất ma túy cho bị cáo Đỗ Đức T vào ngày 19/6/2024 trong vụ án này.
[3] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Đỗ Đức T, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo Đỗ Đức T 0,592 gam ma túy là chất Methamphetamine; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu DEALIM, biển kiểm soát 24K2 – 1474 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S, gắn 01 thẻ sim đã qua sử dụng.
Đối với 0,592 gam ma túy là chất Methamphetamine cơ quan giám định đã trích mẫu 0,073 gam để giám định, còn lại 0,519 gam được tái niêm phong. Đây là chất ma tuý nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu DEALIM, biển kiểm soát 24K2 – 1474 tạm giữ của Đỗ Đức T. Quá trình điều tra xác định, chiếc xe là tài sản thuộc sở hữu của bà Từ Thị Kim N1 là mẹ đẻ của bị cáo Đỗ Đức T. Ngày 19/6/2024, Đỗ Đức T tự ý lấy xe đi mua ma túy bà Từ Thị Kim N1 không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho bà Từ Thị Kim N1. Hội đồng xét xử, xét thấy là đúng quy định của pháp luật nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu trắng gắn 01 thẻ sim đã qua sử dụng, thu giữ của Đỗ Đức T. Đây là chiếc điện thoại bị cáo Đỗ Đức T đã dùng để liên lạc với đối tượng V để mua chất ma tuý, là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[5] Về án phí: Bị cáo Đỗ Đức T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Đức T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 19/6/2024.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ vào điểm a, c, khoản 1, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu của bị cáo Đỗ Đức T 0,519 gam chất ma túy Methamphetamine, còn lại sau giám định được đựng trong bì thư tái niêm phong ngày 19/6/2024 để tiêu huỷ.
Tịch thu của bị cáo Đỗ Đức T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu trắng, số Imel: 355694072409916, có gắn 01 thẻ sim, màn hình bị vỡ nát, máy cũ đã qua sử dụng, để sung vào ngân sách nhà nước.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2024 của Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai).
Về án phí: Bị cáo Đỗ Đức T phải chịu 200.000VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7. Điều 7a và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Ngọc Thanh |
Bản án số 137/2024/HSST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 137/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Đức T
