|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM Bản án số: 137/2024/HSST Ngày 17 - 10 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạnh Xuân Hải.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Ngô Quốc Vũ – Cán bộ hưu trí phường Hoà Mạc;
- Bà Đỗ Thị Liên – Giáo viên nghỉ hưu phường Hòa Mạc;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với:
1/ Bị cáo: Nguyễn Văn S, sinh năm 1994; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Lâm Thị N; vợ: Nguyễn Thị H; con: Có 02 con (lớn nhất sinh năm 2015; nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
2/ Bị hại: Anh Bùi Duy M, sinh năm 1987 (đã chết). Những người đại diện theo pháp luật gồm có: Ông Bùi Duy H1, sinh năm 1952; bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1955; chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1988; cháu Bùi Duy N3, sinh năm 2011; cháu Bùi Bảo A, sinh năm 2015; cháu Bùi Thị Như Q, sinh năm 2021; cùng địa chỉ: Tổ dân phố G, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; đã ủy quyền cho chị Nguyễn Thị N2 (vợ anh M) tham gia tố tụng; có mặt.
3/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam; có mặt.
- + Anh Bùi Duy T, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố G, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 12/4/2024, Nguyễn Văn S (có giấy phép lái xe hạng C) một mình điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Thaco, loại trọng tải 1,25 tấn, BKS 90H - 019.21 đi giao hàng tại tổ dân phố V, phường Đ, thị xã D. Khoảng 09 giờ 20 phút cùng ngày, S điều khiển xe ô tô 90H - 019.21 đi theo đường Fm trong KCN Đ hướng Đ - P để đi về nhà. Khi đi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Fm với đường N2-KCN Đ, S điều khiển xe ô tô 90H - 019.21 đi trên phần đường dành cho các phương tiện di chuyển hướng Đ - P, với tốc độ khoảng 50km/h (theo lời khai của S). Cùng lúc này có xe mô tô BKS 90B2 - 146.85 do anh Bùi Duy M, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố G, phường B, thị xã D điều khiển đi trên đường N hướng từ đường B – QL1A (từ bên trái ngã tư đến theo chiều đi của S). Do S không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không chấp hành biển báo giao nhau với đường không ưu tiên nên khi xe mô tô 90B2 - 146.85 đi đến giữa ngã tư, cách phía trước đầu xe ô tô 90H - 019.21 khoảng 05m S mới phát hiện ra. Lúc này S giảm tốc độ nhưng do khoảng cách quá gần nên đã để phần đầu bên trái xe ô tô 90H - 019.21 đâm vào khu vực bên phải xe mô tô 90B2 - 146.85 làm xe mô tô và anh M bị ngã, đổ ra đường, trượt rê về phía Phủ Lý, cách vị trí va chạm khoảng 28m thì dừng lại. Hậu quả: Anh M tử vong tại chỗ, hai phương tiện bị hư hỏng.
Sau khi vụ tai nạn giao thông trên xảy ra, Cơ quan Công an thị xã D đã phối hợp với các cơ quan liên quan tiến hành tổ chức khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện, định giá tài sản theo quy định của pháp luật.
Kiểm tra nồng độ cồn tại thời điểm tham gia giao thông kết quả xác định: Nồng độ cồn của Nguyễn Văn S là 0,000mg/dL.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- + Thu giữ của anh Bùi Duy M: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 90B2-146.85; 01 đăng ký xe mô tô số 030803 của xe mô tô 90B2-146.85.
- + Thu giữ của Nguyễn Văn S: 01 xe ô tô tải nhãn hiệu THACO FRONTIER 125, BKS 90H-019.21, số máy J2754410, số khung: RNHA350AKGC005564, đã qua sử dụng; 01 Đăng ký xe ô tô số 009595 của xe ô tô BKS 90H-019.21, 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 2102498 của xe ô tô 90H-019.21 (có hiệu lực đến hết ngày 25/7/2024), 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe ô tô 90H-019.21 (có thời hạn đến ngày 26/7/2024) của Nguyễn Văn S.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 10/KLGĐTT-TTGĐYK&PY ngày 10/6/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H kết luận: Nguyên nhân tử vong của anh Bùi Duy M do chấn thương sọ não nặng (vỡ xương hộp sọ, dập não) trên người có gãy xương chày phải.
Tại bản Kết luận giám định độc chất số 303/406/24/KLGĐĐC-PYQG ngày 15/5/2024 của V, kết luận: Không tìm thấy cồn, độc chất trong máu anh Bùi Duy M.
Tại bản kết luận về việc định giá tài sản số: 61/KL-HĐ ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã D kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave, BKS: 90B2 – 146.85 bị hư hỏng, thiệt hại sau tai nạn là: 1.300.000 đồng
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn S và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Bùi Duy M số tiền 270.000.000 đồng.
Cáo trạng số 132/CT-VKS - DT ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đưa ra quan điểm về hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn S chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt và không tranh luận gì. Người đại diện theo ủy quyền của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và các chức danh tư pháp đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, HĐXX xác định các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 12/4/2024, tại khu vực ngã tư đường Fm thuộc địa phận tổ dân phố B, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn S điều khiển xe ô tô 90H - 019.21 đi vào khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Fm với đường N2-KCN Đồng Văn 3, do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không chấp hành hệ thống biển báo hiệu đường bộ nên đã để phần đầu bên trái xe ô tô BKS 90H-019.21 đâm vào khu vực bên phải của xe mô tô BKS 90B2 – 146.85 do anh Bùi Duy M điều khiển làm xe mô tô và anh M bị ngã, đổ xuống đường trượt về phí trước. Hậu quả: Anh M tử vong tại chỗ, hai phương tiện tham gia giao thông bị hư hỏng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn S gây nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn S điều khiển xe ô tô với lỗi không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không chấp hành biển báo hiệu đường bộ đã vi phạm các Điều 9, 11 Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm chết 01 người đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Do vậy, Cáo trạng số 132/CT-VKS - DT ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố bị cáo là có căn cứ.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt;
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã khắc phục hậu quả bằng việc bồi thường theo thỏa thuận đối với gia đình người bị hại; được đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ngoài ra bị hại cũng có một phần lỗi là điều khiển xe mô tô đi vào ngã tư đường giao nhau không chấp hành hệ thống đường bộ cảnh báo nguy hiểm. Đối chiếu với quy định của pháp luật, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ những nhận định trên xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội với lỗi vô ý và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, sau khi xem xét mọi mặt HĐXX xét thấy không cần thiết cho cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cần ấn định mức hình phạt cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền nơi bị cáo cư trú cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt.
Hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo được quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự.
[5] Về hành vi khác: Đối với anh Bùi Duy M điều khiển xe mô tô BKS: 90B2 – 146.85 đi vào ngã tư đường giao nhau không chấp hành hệ thống đường bộ cảnh báo nguy hiểm vi phạm Điều 9, Điều 11 Luật Giao thông đường bộ. Tuy nhiên sau khi tai nạn anh M đã tử vong nên Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý là có căn cứ.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án, gia đình người bị hại đã nhận số tiền 270.000.000 đồng do bị cáo và gia đình bồi thường. Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng xác nhận và không có ý kiến gì, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng, tài liệu thu giữ:
Đối với xe mô tô 90B2-146.85 và giấy tờ liên quan. Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị N2 (là vợ anh Bùi Duy M), nên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe và giấy tờ xe cho chị N2 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với xe ô tô 90H - 019.21 và giấy tờ liên quan quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn S, Cơ quan CSĐT Công an thị xã D đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe và toàn bộ giấy tờ xe cho Nguyễn Văn S là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Nguyễn Văn S có giá trị đến ngày 10/01/2027 là giấy tờ tùy thân của bị cáo, nên HĐXX cần trả lại cho bị cáo.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, các đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
Từ nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/10/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố P, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới.
2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 BLTTHS: Trả lại bị cáo Nguyễn Văn S: 01 giấy phép lái xe ô tô hạng hạng C số [...] mang tên Nguyễn Văn S.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000 đồng.
Báo cho bị cáo; người đại diện của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mạnh Xuân Hải |
Bản án số 137/2024/HSST ngày 17/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 137/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
