TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2024/DS-ST
Ngày: 27/9/2024
V/v tranh chấp hợp đồng
dân sự vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Quang Ngọc Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Ngọc Phương – Cán bộ hưu trí;
- Bà Lê Yến Loan – Phó Bí thư Thành đoàn Thuận An.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 45/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST - DS ngày 24 tháng 7 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Vương Quốc H, sinh năm 1988 và bà Nguyễn Hoàng Y, sinh năm 1988; cùng thường trú: Tổ I, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Hoàng N, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ B, khu phố C, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Căn C, chung cư G, đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương – là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo hợp đồng ủy quyền ngày 21/6/2023), có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1993; địa chỉ: Số A khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Vợ chồng ông Vương Quốc H, bà Nguyễn Hoàng Y có mối quan hệ quen biết với ông Nguyễn Trọng N1 và có cho ông N1 mượn tiền nhiều lần, cụ thể:
- Ngày 12/3/2021, cho ông N1 vay số tiền 30.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản.
- Ngày 15/3/2021, cho ông N1 vay số tiền 70.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản.
- Ngày 07/4/2021, cho ông N1 vay số tiền 100.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản
- Ngày 09/12/2021, cho ông N1 vay số tiền 200.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản.
Toàn bộ số tiền trên đều được chuyển vào cùng số tài khoản ngân hàng cá nhân của ông N1 theo số: 6511000817475, Ngân hàng TMCP Đ.
Đến ngày 09/3/2023, ông N1 vẫn chưa trả tiền nên đã lập Giấy vay tiền xác nhận khoản nợ gốc 400.000.000 đồng và xin gia hạn thời hạn thanh toán đến ngày 09/12/2023. Giấy vay tiền còn ghi nhận số tiền lãi thỏa thuận trước đó là 3%/tháng (từ 10/12/2021 đến ngày 08/3/2023), tuy nhiên do làm ăn khó khăn nên điều chỉnh tiền lãi là 1%/tháng (kể từ ngày 09/3/2023 đến 09/12/2023).
Tuy nhiên đến nay đã quá thời hạn trả nợ nhưng ông N1 vẫn chưa trả tiền cho ông H, bà Y. Nhận thấy hành vi của ông N1 là vi phạm nghĩa vụ trả nợ và xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên ông H, bà Y đã khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Nguyễn Trọng N1 phải trả cho ông Vương Quốc H và bà Nguyễn Hoàng Y số tiền nợ gốc và lãi chậm trả của khoản vay là 635.120.000 đồng. Trong đó:
- Tổng nợ gốc của 04 lần vay là: 30.000.000 + 70.000.000 + 200.000.000 + 100.000.000 = 400.000.000 đồng.
- Tiền nợ lãi của số tiền nợ trong khoản thời gian 14 tháng 28 ngày (tính từ ngày 10/12/2021 đến ngày 08/03/2023) với mức lãi suất 3%/tháng, tương ứng số tiền là: 179.200.000 đồng.
- Tiền nợ lãi của số tiền nợ trong khoản thời gian 9 tháng (tính từ 09/3/2023 đến ngày 09/12/2023) với mức lãi suất 1%/tháng, tương ứng số tiền là 36.000.000 đồng.
- Tiền lãi chậm trả phát sinh của số tiền nợ gốc trên trong khoản thời gian tạm tính từ ngày 10/12/2023 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm vụ án là 6 tháng với mức lãi suất 0.83%/tháng, tương ứng số tiền lãi tạm tính là: 400.000.000 đồng x 0.83%) x 6 tháng = 19.920.000 đồng.
Ngày 20/9/2024, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi, cụ thể: Tiền lãi của số tiền nợ trong khoản thời gian 14 tháng 28 ngày (tính từ ngày 10/12/2021 đến ngày 08/03/2023) với mức lãi suất 1,66%/tháng (20%/năm), tương ứng số tiền là: 99.157.333 đồng. Các yêu cầu khởi kiện còn lại vẫn giữ nguyên.
Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp: CCCD ông Vương Quốc H và bà Nguyễn Hoàng Y; Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn Vương Quốc H và Nguyễn Hoàng Y (bản công chứng); Giấy vay tiền lập ngày 09/3/2023, Chứng từ giao dịch chuyển khoản cho vay tiền (bản photo); Hợp đồng ủy quyền (bản chính).
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Trọng N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền của Toà án và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn để yêu cầu trả lại số tiền nợ gốc và tiền lãi do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Bị đơn có nơi cư trú tại địa chỉ số A khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không rõ lý do, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Ngày 20/9/2024, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi (từ 10/12/2021 đến ngày 08/03/2023) với số tiền 80.042.667 đồng, chỉ yêu cầu tiền lãi của số tiền nợ với mức lãi suất 1,66%/tháng (20%/năm), tương ứng số tiền là: 99.157.333 đồng. Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Điều 5, Điều 71, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 400.000.000 đồng qua hình thức chuyển khoản, việc vay mượn được có lập thành văn bản ngày 09/3/2023, thỏa thuận về lãi suất từng mốc thời gian cụ thể, thời hạn vay đến ngày 09/12/2023. Như vậy có căn cứ xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có phát sinh giao dịch dân sự dưới hình thức hợp đồng vay tài sản.
[2.2] Hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng song vụ, quyền và nghĩa vụ của hai bên phát sinh sau khi ký kết hợp đồng. Mặc dù đã hết thời hạn trả nợ bị đơn vẫn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo thỏa thuận, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán toàn bộ nợ gốc là phù hợp với quy định tại các Điều 463 và 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.3] Về tiền lãi và mức lãi suất: Hợp đồng vay tài sản giữa các bên thuộc trường hợp vay có lãi, nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi từ ngày 10/12/2021 đến ngày 08/03/2023 với mức lãi suất 1,66%/tháng, tương ứng số tiền là: 99.157.333 đồng; tiền lãi từ 09/3/2023 đến ngày 09/12/2023 với mức lãi suất 1%/tháng, tương ứng số tiền là 36.000.000 đồng; tiền lãi chậm trả trên số tiền nợ gốc trong khoảng thời gian tính từ ngày 10/12/2023 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm 27/9/2024 (làm tròn 09 tháng) với mức lãi suất 0.83%/tháng tương ứng số tiền 29.880.000 đồng. Yêu cầu về tiền lãi và mức lãi suất của nguyên đơn là phù hợp quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.4] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 227, 228, 244, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vương Quốc H, bà Nguyễn Hoàng Y về việc tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản với bị đơn ông Nguyễn Trọng N1.
- Buộc ông Nguyễn Trọng N1 phải thanh toán cho ông Vương Quốc H và bà Nguyễn Hoàng Y số tiền 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng) nợ gốc và 165.037.333 đồng (một trăm sáu mươi lăm triệu, không trăm ba mươi bảy nghìn, ba trăm ba mươi ba) tiền lãi, tổng cộng 565.037.333 đồng (năm trăm sáu mươi lăm triệu, không trăm ba mươi bảy nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu khởi kiện về một phần tiền lãi tính từ ngày 10/12/2021 đến ngày 08/03/2023 với số tiền 80.042.667 đồng (tám mươi triệu, không trăm bốn mươi hai nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Trọng N1 phải chịu 28.251.866 đồng (hai mươi tám triệu, hai trăm năm mươi mốt nghìn, tám trăm sáu mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Vương Quốc H và bà Nguyễn Hoàng Y số tiền 14.702.400 đồng (mười bốn triệu, bảy trăm lẻ hai nghìn, bốn trăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004628 ngày 23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An.
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Quang Ngọc Nhân |
Bản án số 137/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 137/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VTS
