Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/HS-ST

Ngày: 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Ảnh

Ông Phạm Công Lương

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Bích Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 101/2024/HSST ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Đoàn Thị Kim D. Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1975 tại Quảng Nam; Nơi ĐKHKTT: Tổ H phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng; Chỗ ở: Số B T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Đoàn Quốc T (SN 1942) và bà Phạm Thị L (SN 1948). Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ 01. Bị cáo có chồng là Trương Tiến D1 (đã ly hôn); có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2003.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh của Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên toà.

2/ Lê Thị Thanh T1. Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: N. Sinh ngày: 06 tháng 9 năm 1994 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: K N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:

1

Không; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Lê Quang P (đã chết) và bà Nguyễn Thị Diệu H (SN 1972). Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ 03. Bị cáo có chồng là Nguyễn Văn Đ (SN 1997) và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2024.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh của Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên toà.

3/ Trần Thị H1. Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 01 tháng 01 năm 1977 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Chỗ ở: Số A H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Con ông Trần V (SN 1965) và bà Phan Thị P1 (SN 1957). Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 01. Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 1999.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh của Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên toà.

4/ Nguyễn Thị Ngọc H2. Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 06 tháng 5 năm 1987 tại tỉnh Bình Định; Nơi ĐKHKTT: Khối phố B, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở: K T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Nguyễn Văn T2 (SN 1956) và bà Nguyễn Thị T3 (SN 1968). Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ 03. Bị cáo có chồng là Nguyễn Huy T4; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh của Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên toà.

5/ Nguyễn Thị T5. Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: T6. Sinh ngày: 12 tháng 7 năm 1989 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Chỗ ở: Tổ F phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn T7 (SN 1954) và bà Võ Thị H3 (SN 1956). Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba.

2

Có chồng là Nguyễn Đức V1 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh của Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Mai T8, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số I T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Bà Đào Lê Thị Quỳnh N1, sinh năm 1983. Địa chỉ: Số H H, phường P, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Bà Võ Thị Như K, sinh năm 2001. Địa chỉ: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị Phương T9, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

Bà Phạm Thị T10, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.

Bà Trần Thị Tuyết L1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ F phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Ông Trần Việt D2, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ A phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 27.3.2024, Đoàn Thị Kim D cùng Trần Thị H1, Nguyễn Thị Ngọc H2, Lê Thị Thanh T1 và Nguyễn Thị T5 hẹn gặp nhau tại khách sạn T13, số D đường X, P. T, Q. H, TP . do bà Đ1 Lê Thị Quỳnh N1 làm quản lý để đánh bài thắng thua bằng tiền.

Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Thị T5 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Janus, màu đỏ, BKS: 92E1-467.97 đến tiệm tạp hóa trên đường H (không rõ địa chỉ cụ thể) mua một hộp bài tây gồm 10 bộ với giá 60.000 đồng, rồi đến ngã năm T, P. H, Q. L, TP . chở Nguyễn Thị Mai T8 đi cùng. Khi đến cây xăng Q trên đường T, TP ., T5 và T8 gặp Trần Thị H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xanh-đen, BKS: 75K1-493.94, cả 03 đi đến khách sạn T13. Đến nơi, H1 gặp Võ Thị Như K - nhân viên lễ tân khách sạn, hỏi phòng do D đặt trước rồi cùng T5, T8 lên phòng 204, sau đó,

3

Lê Thị Thanh T1, Đoàn Thị Kim D, Nguyễn Thị Ngọc H2 bồng theo con trai là Nguyễn Huy H4 (sinh năm: 2021) đi xe Grap lần lượt đến.

Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, D, H1, T1 và T5 bắt đầu chơi đánh bài thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài "Xì lát", đến ván thứ sáu thì H2 vào chơi cùng, T8 không tham gia chơi đánh bài. D là người cầm cái cố định, còn H1, T1, T5 và H2 thì làm nhà con, quy định mỗi ván mỗi nhà con đặt cược số tiền từ 100.000 đồng cho đến 500.000 đồng ở dưới phía trước chỗ ngồi của mình. Sau khi đánh bài xong, mỗi người góp lại 100.000 đồng để D trả tiền phòng khách sạn, người mua bài không cần góp tiền trả tiền phòng. Đến 23 giờ 40 phút cùng ngày, D cùng đồng bọn đánh xong ván bài thứ 11 thì bị Cơ quan CSĐT Công an quận H kiểm tra, phát hiện.

Hình thức đánh như sau: đánh bài "Xì lát" bằng 01 bộ bài tây gồm 52 lá, có các lá bài từ A đến K tương ứng với số điểm từ 01 đến 10; lá A gọi là Át, có thể tính 01 điểm, 10 điểm hoặc 11 điểm tùy vào từng trường hợp; lá 10, J, Q, K được tính 10 điểm; các lá từ 2 đến 9 tính tương ứng từ 02 điểm đến 09 điểm. D, H1, H2, T5 và T1 ngồi theo thứ tự vòng tròn; khi H1, H2, T5 và T1 đặt tiền cược tiền để phía trước chỗ ngồi xong thì D chia bài cho từng người theo vòng thứ tự (bên trái hoặc bên phải) rồi đến D, mỗi người 02 lá bài, số bài còn lại sẽ được úp và để ở giữa để cho những nhà con rút bài (mỗi người không được rút thêm quá 3 lá bài từ dưới lên). Sau khi chia, tất cả cùng xem bài tuỳ theo điểm số của bài mà mỗi người lần lượt chọn rút thêm bài. Trường hợp sau khi được chia 2 lá mà người chơi có 02 con Át (A) thì gọi là "xì bàn", có một lá bài "A" kết hợp cùng với lá bài 10 hoặc I, Q, K thì được gọi là "Xì Lát", trường hợp đã rút thêm 3 lá bá mà cộng lại có tổng số điểm không quá 21 thì gọi là "ngũ linh" (ngũ linh nhỏ hơn sẽ ăn ngũ linh lớn, không giới hạn điểm nhỏ) và sau cùng là tính điểm bằng số thứ tự các con bài, người nào cao điểm thì thắng, nhà con được tính từ 16 đến 21 điểm, còn nhà cái được tính từ 15 đến 21 điểm, nếu tổng điểm của các lá bài vượt quá 21 điểm thì gọi là "oác", nhà con tổng điểm từ 15 trở xuống mà không bốc tiếp hoặc bốc quá số điểm 28 thì phải đền L2. Sau khi không còn ai rút bài thêm nữa thì nhà cái sẽ bắt đầu mở bài của các nhà con để so sánh điểm, từ cao đến thấp (xì bàn - xì lát - ngũ linh - 21 điểm...16 điểm, riêng nhà cái 15 điểm được tính đủ điểm để so với nhà con), trường hợp bài nhà cái nhỏ điểm hơn nhà con thì nhà cái sẽ chung tiền cho nhà con bằng với số tiền người đó đã đặt cược và ngược lại.

Kết quả tại thời điểm phát hiện: Đoàn Thị Kim D cùng đồng bọn sử dụng số tiền 22.500.000 để đánh bạc, cụ thể: D mang theo số tiền 10.000.0000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia chơi 11 ván, đã thắng số tiền 1.900.000 đồng; T1 mang theo số tiền 8.100.000 đồng dùng để đánh bạc; đã tham gia chơi 11 ván, mỗi ván cược 300.000 đồng

4

(04 ván thắng, 06 ván thua, 01 ván hoà), thua số tiền 600.000 đồng, H1 mang theo số tiền 2.000.000 đồng dùng để đánh bạc; tham gia chơi 11 ván, mỗi ván cược 200.000 đồng, một vài ván cược 100.000 đồng, thua số tiền 600.000 đồng; H2 mang theo số tiền 1.300.000 đồng dùng để đánh bạc; đã tham gia chơi 06 ván, mỗi ván cược 100.000 đồng (03 ván thắng, 03 ván hoà), thắng số tiền 300.000 đồng; T5 mang theo số tiền 1.100.000 đồng dùng để đánh bạc; đã tham gia chơi 11 ván, mỗi ván cược 100.000 đồng (10 ván thua, 01 ván hoà), thua số tiền 1.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ của Đoàn Thị Kim D, Lê Thị Thanh T1, Nguyễn Thị Ngọc H2, Trần Thị H1, Nguyễn Thị T5: Tiền mặt lần lượt là 11.900.000 đồng; 7.500.000 đồng; 1.600.000 đồng; 1.400.000 đồng; 100.000 đồng; 01 bộ hộp bài, bên trong có 09 bộ bài tây chưa qua sử dụng; 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng; 01 dĩa nhựa màu trắng, kích thước 15x21cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xanh đen, BKS: 75K1-493.94, số khung: 001894, số máy: 079668, đã qua sử dụng, cùng 01 giấy đăng ký xe; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus, màu đỏ, BKS: 92E1-467.97, số khung: 056312, số máy: 056314, đã qua sử dụng, cùng 01 giấy đăng ký xe; 01 Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh V2; 01 giấy bán xe; 01 Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH T14; 01 chứng nhận đủ điều kiện về ANTT (bản sao) và 01 Giấy ủy quyền của bà Lê Thị Ngọc H5, được lưu theo hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Nguyễn Thị Mai T8, bà Đào Lê Thị Quỳnh N1, bà Võ Thị Như K, bà Nguyễn Thị Phương T9, bà Phạm Thị T10, ông Trần Việt D2 vắng mặt, HĐXX đã tiến hành công bố lời khai của họ có tại hồ sơ vụ án và các bị cáo đều thống nhất xác định là đúng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như cáo trạng số: 99/CT-VKS ngày 08/8/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo: Đoàn Thị Kim D, Lê Thị Thanh T1, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Ngọc H2, Nguyễn Thị T5 phạm tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Đồng thời đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Thị Kim D từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng; xử phạt bổ sung bị cáo D số tiền từ 15.000.000đ đến 20.000.000₫.

5

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, n khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh T1 từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng; xử phạt bổ sung bị cáo T1 số tiền từ 10.000.000đ đến 15.000.000₫.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị H1 từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt bổ sung bị cáo T1 số tiền từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H2 từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt bổ sung bị cáo T1 số tiền từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i,s khoản 1,2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T5 từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt bổ sung bị cáo T1 số tiền từ 10.000.000đ đến 15.000.000đ.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu số tiền mà các bị cáo dùng để đánh bạc là 22.500.000 đồng để sung nộp vào ngân sách Nhà nước; T11 tịch thu và tiêu hủy đồ vật dùng vào việc phạm tội là 01 hộp bài, bên trong có chín bộ bài tây chưa qua sử dụng, 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 đĩa nhựa màu trắng, kích thước 15 x 21 cm.

Đối với xe 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus, màu đỏ, BKS: 92E1-467.97, số khung: 056312, số máy: 056314, đã qua sử dụng, cùng 01 giấy đăng ký xe là tài sản của bà Trần Thị Tuyết L1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho bà L1.

Các bị cáo không có ý kiến tự bào chữa và không trình bày ý kiến tranh luận gì.

Lời nói sau cùng:

- Các bị cáo Đoàn Thị Kim D, Lê Thị Thanh T1, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Ngọc H2, Nguyễn Thị T5 nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo rất hối hận và đều xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương để có cơ hội lo cho gia đình và chăm sóc con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Nguyễn Thị Mai T8, bà Đào Lê Thị Quỳnh N1, bà Võ Thị Như K, bà Nguyễn Thị Phương T9, bà Phạm Thị T10, ông Trần Việt D2 vắng mặt nhưng đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra được thể hiện trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không gây trở

6

ngại cho việc xét xử do đó căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an quận H,Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.

[3]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Đoàn Thị Kim D, Lê Thị Thanh T1, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Ngọc H2, Nguyễn Thị T5 đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 23 giờ ngày 27.3.2024 tại phòng 204 khách sạn T13, số D- E đường X, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng Đoàn Thị Kim D, Lê Thị Thanh T1, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Ngọc H2, Nguyễn Thị T5 có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Xì lát” với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 22.500.000đ.

Do đó, hành vi của các bị cáo Đoàn Thị Kim D, Lê Thị Thanh T1, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Ngọc H2, Nguyễn Thị T5 đã cấu thành tội “Đánh bạc” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số: 99/CT-VKS ngày 08/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4]. Về tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo: Mặc dù nhận thức rõ hành vi đánh bạc với mục đích được thua bằng tiền mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép là hành vi trái pháp luật, nếu vi phạm thì sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc nhưng do coi thường pháp luật, muốn kiếm tiền một cách dễ dàng mà không phải lao động vất vả nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi của các bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội. Tuy trị giá tài sản thu giữ trên chiếu bạc không lớn nhưng việc sát phạt nhau ăn tiền là một việc làm gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến trật tự công cộng mà

7

còn xâm phạm đến trật tự trị an của xã hội, góp phần tạo nên tệ nạn cờ bạc, làm cho cuộc sống của nhiều gia đình bị đảo lộn, gây ảnh hưởng không tốt trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng đối với từng bị cáo.

[5]. Về nhân thân: Các bị cáo Đoàn Thị Kim D, Lê Thị Thanh T1, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Ngọc H2, Nguyễn Thị T5 đều có nhân thân tốt, thể hiện ở việc chưa có tiền án, tiền sự.

[6]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[7]. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần cho tất cả các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Lê Thị Thanh T1 tại thời điểm phạm tội bị cáo đang mang thai, hoàn cảnh gia đình bị cáo có mẹ bị tai biến do đó cần cho bị cáo T1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm n khoản 1, 2 Điều 51 BLHS; bị cáo Đoàn Thị Kim D có cha, mẹ là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương nên cần áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

[8]. Về quyết định hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[8.1]. Đối với bị cáo Đoàn Thị Kim D đem theo số tiền 10.000.000 đồng dùng để đánh bạc, D cầm cái 11 ván, kết quả thắng 1.900.000 đồng. Bị cáo thắng bạc nên thu lợi bất chính số tiền 1.900.000đ. Số tiền đem đi đánh bạc của bị cáo D là nhiều nhất so với đồng bọn, hình thức chơi bài là “Xì lát” và bị cáo là người cầm cái nên HĐXX thấy cần xét xử bị cáo mức hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, có chỗ ở rõ ràng, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương để giám sát cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[8.2] Đối với bị cáo Lê Thị Thanh T12 đem theo số tiền 8.100.000 đồng dùng để đánh bạc, tham gia chơi 11 ván, kết quả thua 600.000đ. Số tiền đem đi đánh bạc của bị cáo T1 lớn thứ hai tuy nhiên, bị cáo cũng là người có nhân thân tốt, có chỗ ở rõ ràng, bị cáo đang nuôi con nhỏ, do đó không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về chính quyền địa phương để giám sát cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

8

[8.3]. Đối với bị cáo Trần Thị H1, Nguyễn Thị T5, Nguyễn Thị Ngọc H2 đều là người có nhân thân tốt, phạm tội ít nghiêm trọng với số tiền dùng để đánh bạc không lớn, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà để các bị cáo tự cải tạo, giáo dục mình tại xã, phường cũng đủ giáo dục, răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung. Do các bị cáo H1, H2, T6 chỉ làm công việc phổ thông, không có thu nhập ổn định, đang nuôi con nhỏ nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

[9] Về hình phạt bổ sung: Đối với bị cáo Đoàn Thị Kim D có vai trò lớn nhất trong vụ án, bị cáo là người đặt thuê khách sạn để đánh bạc, là người cầm cái, số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là nhiều nhất nên cần áp dụng khoản 3 Điều 321 phạt bổ sung bị cáo D số tiền 10.000.000đ. Đối với các bị cáo Lê Thị Thanh T1, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Ngọc H2, Nguyễn Thị T5 hiện chỉ làm công việc phổ thông có thu nhập thấp, không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền

[10]. Về biện pháp tư pháp: Đối với số tiền đánh bạc và thắng bạc là 22.500.000₫ là công cụ, phương tiện phạm tội nên căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước.

[11]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 75K-493.94, đứng tên Nguyễn Thị Phương T9 - con gái của bị cáo H1. Từ ngày 25/3/2024 T9 giao xe cho bà H1 mượn làm phương tiện đi lại, không biết việc bà H1 sử dụng làm phương tiện đi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an quận H trả cho bà T9 là có căn cứ.

Đối với 01 hộp bài, bên trong có chín bộ bài tây chưa qua sử dụng, 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 đĩa nhựa màu trắng, kích thước 15 x 21 cm là đồ vật dùng vào việc phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus, màu đỏ, BKS 92E1-467.97, số khung: 056312, số máy: 056314, đã qua sử dụng cùng 01 giấy đăng ký xe đứng tên Phạm Thị Thủ . Qua điều tra, xác định được đây là tài sản của bà Trần Thị Tuyết L1, bà L1 cho bị cáo mượn xe để làm phương tiện đi lại, không biết T5 sử dụng xe để đi đánh bạc do đó cần tuyên trả lại xe cho bà L1.

Vào thời điểm xảy ra vụ án, chủ khách sạn không biết các bị cáo thuê phòng để đánh bạc, do đó không xử lý về hành vi “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” theo quy định tại Điều 322 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở và xử phạt hành chính là đúng với quy định của pháp luật HĐXX không đề cập đến.

9

luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Tuyên bố các bị cáo: Đoàn Thị Kim D, Lê Thị Thanh T1, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Ngọc H2, Nguyễn Thị T5 phạm tội “ Đánh bạc”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị Kim D 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung bị cáo Đoàn Thị Kim D số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng y)

Giao bị cáo Đoàn Thị Kim D về UBND phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo có thay đổi địa chỉ nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s, n khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Thanh T1 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Thị Thanh T1 về UBND phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo có thay đổi địa chỉ nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H1 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Thị H1 cho Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Trần Thị H1 có trách nhiệm phối hợp với

10

Ủy ban nhân dân phường H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo Trần Thị H1 không bị khấu trừ thu nhập để sung công quỹ nhà nước nhưng phải thực hiện những nghĩa vụ khác theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

4. Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H2 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H2 cho Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H2 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường T trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H2 không bị khấu trừ thu nhập để sung công quỹ nhà nước nhưng phải thực hiện những nghĩa vụ khác theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

5. Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T5 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị T5 cho Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Thị T5 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo Nguyễn Thị T5 không bị khấu trừ thu nhập để sung công quỹ nhà nước nhưng phải thực hiện những nghĩa vụ khác theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

II. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 22.500.000 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm ngàn đồng y). (Hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 394909041644500000 của Công an quận H, thành phố Đà Nẵng mở tại kho bạc nhà nước thành phố Đà Nẵng theo chứng từ giao dịch ngày 23/7/2024).

III. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu và tiêu hủy 01 hộp bài, bên trong có 09 bộ bài tây chưa qua sử dụng, 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 đĩa nhựa màu trắng, kích thước 15 x 21 cm.

11

T11 trả cho bà Trần Thị Tuyết L1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus, màu đỏ, BKS 92E1-467.97, số khung: 056312, số máy: 056314, đã qua sử dụng và 01 giấy đăng ký xe đứng tên Phạm Thị Thủ .

Các vật chứng nêu trên hiện nay Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2024.

IV. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đoàn Thị Kim D, Lê Thị Thanh T1, Trần Thị H1, Nguyễn Thị Ngọc H2, Nguyễn Thị T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

V. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - TAND TP Đà Nẵng;
  • - CQCSĐT CA quận Hải Châu;
  • - THA dân sự quận Hải Châu;
  • - UBND phường Bình Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HÔI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Hồ Thị Mỹ Dung

12

13

14

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về đánh bạc

  • Số bản án: 137/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐoànThi Kim Dung cùng đồng phạm phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger