|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 137/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 9 - 2024 Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thiện
2. Ông Mai Thương
-
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 303/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 7 năm 2024; về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 221/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị N năm 1960; nơi cư trú: Số A, đường số B, tổ E, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận
-
Bị đơn: Ông Vũ Văn M năm 1957; nơi cư trú: Số A, đường số B, tổ E, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án, cũng như tại phiên toà nguyên đơn trình bày:
Bà Phạm Thị N1, ông Vũ Văn M1 nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn và chung sống với nhau từ năm 1981 nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi chung sống bà Nông M9 ba người con chung là Vũ D Mlsinh năm 1981, Vũ Ngọc G năm 1986 và Vũ Văn S năm 1989. Bà N, ông M12 sống hạnh phúc được khoảng 20 năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông M2 trưởng, thường chưởi bới, xúc phạm và đánh đập bà N2 cớ. Bản thân bà N3 các con đã nhiều lần khuyên bảo động viên nhưng ông M7 không thay đổi được. Mặc dù bà Nông M3 vẫn còn sống chung một nhà nhưng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau, tự làm tự ăn. Hiện nay bà N4 còn tình cảm với ông M4 không mong muốn tiếp tục chung sống với ông M8 đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Về con chung, tài sản chung, nợ chung bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Vũ Văn M5:
Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng đều không có ý kiến gửi Tòa án, cũng không tham gia làm việc. Do đó, tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại biên bản xác minh ngày 06/8/2024 thể hiện:
Ông M6 người gia trưởng, thường xuyên chưởi bới đánh đập và xúc phạm bà NBản thân bà N3 các con nhiều lần khuyên bảo, động viên, nhưng không thay đổi được. Mặc dù bà Nông M7 còn sống chung nhưng không ăn chung, ngủ chung, không ai quan tâm, chăm sóc gì nhau. Đời sống vợ chồng không hề hạnh phúc.
Tại phiếu thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thể hiện:
Ông Vũ Văn M ngày 16 tháng 4 năm 1957; quê quán huyện Đ, tỉnh Thái Bìnhnơi thường trú và chổ ở hiện tại số 14, đường số B, tổ E, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh:
- Về tố tụng:
- + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- + Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung vụ án:
Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho bà Phạm Thị N1 được ly hôn với ông Vũ Văn M5
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Bị đơn ông Vũ Văn M5 hiện thường trú tại huyện Đ nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2] Bà Phạm Thị N1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Vũ Văn M8 quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [3] Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt bị đơn không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Vắng mặt nguyên đơn nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.
- [4] Bà Phạm Thị N1, ông Vũ Văn M5 tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 1981, nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống bà Nông M9 ba người con chung là Vũ D M1sinh năm 1981, Vũ Ngọc G năm 1986 và Vũ Văn S năm 1989. Theo tài liệu giấy khai sinh (bút lục 19) thể hiện anh Vũ Văn M10 ngày 06/8/1981, cha Vũ Văn M11 Phạm Thị NNhư vậy, bà N5 Minh xác L hệ vợ chồng trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, bà N yêu cầu ly hôn nên Toà án thụ lý giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- [5] Bà Nông M12 sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông M6 người gia trường, thường chưởi bới, đánh đập, xúc phạm bà N2 cớ. Mặc dù bà N3 các con đã nhiều lần khuyên bảo, động viên nhưng không có kết quả. Hiện nay bà Nông M7 còn sống chung, nhưng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau. Bản thân ông M13 khi thụ lý vụ án mặc dù Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp, hòa giải đoàn tụ để chung sống hạnh phúc với với nhau nhưng không tham gia, không có ý kiến, điều đó chứng tỏ ông M cũng không còn tha thiết gì cuộc sống hôn nhân với bà bà N. Nên có cơ sở xác định mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông M đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn. Nên, cần xử cho bà N được ly hôn với ông M là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- [6] Các bên không có tranh chấp và không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung, tài sản chung, nợ chung, nên không xem xét.
- [7] Bà N phải chịu án phí ly hôn, tuy nhiên bà N6 người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- [8] Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung;
- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị N1. Bà Phạm Thị N1 được ly hôn với ông Vũ Văn M5
- Về án phí: Bà Phạm Thị N7 miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đình Trường |
Bản án số 137/2024/HNGĐ-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 137/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Nhàn-Vũ Văn Minh
