Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:115/2024/DS-ST

Ngày 28-8-2024

“V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Phạm Lan Chi

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hồ Lệ Hoa

Ông Nguyễn Tấn Lộc

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia

phiên toà: Ông Võ Hồng Quân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 133/2022/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2022, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn S; Sinh năm 1950 (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông S: Anh Kim Chan Đa R, là

Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có mặt)

- Bị đơn: 1/ Ông Nguyễn Văn L; Sinh năm 1960 (có mặt)

2/ Bà Mã Thị Ú; Sinh năm 1961 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Lương Thị B; Sinh năm 1960 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau

2/ Ngân hàng N2 – Chi nhánh huyện T (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03/10/2022, các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, ông Phạm Văn S trình bày:

Về nguồn gốc đất tranh chấp: Đất tranh chấp do cha mẹ của ông Sáu T khai phá rồi để lại cho ông S canh tác. Vào năm 1993, vợ chồng ông S, bà B với ông L và bà Ú có thỏa thuận chuyển đổi một phần đất có diện tích 1.300 m² thuộc thửa 347, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T với ông L và bà Ú, phần đất của ông L bà Ú có diện tích 1.300 m² cùng tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T. Phần đất tranh chấp có tứ cận như sau: Mặt tiền giáp Kênh Nước C, ngang khoảng 13 tầm lớn; Mặt hậu giáp phần đất còn lại của ông S ngang khoảng 13 tầm lớn; Cạnh phải nhìn từ mặt tiền giáp đất của bà Phạm Thị B1 dài khoảng 11 tầm lớn; Cạnh trái nhìn từ mặt tiền giáp đất ông Nguyễn Văn G, đã sang lại cho ông Nguyễn Văn N dài khoảng 11 tầm lớn.

Thời điểm chuyển đổi với nhau không đo đạc nhưng cả hai bên đều biết đất của ông S có dư ra phần mặt tiền ngang 7,5m, mặt hậu ngang 03m, dài 36 m, tổng diện tích khoảng 189 m². Đến năm 2021 ông S có đòi lại phần đất dư nhưng ông L và bà Ú không trả.

Đối với phần đất 01 công tầm lớn ông L bà Ú đã đổi cho ông S thì sau đó do làm lúa không trúng nên ông S đã chuyển nhượng lại cho ông L và bà Ú với giá 07 chỉ vàng 24K. Phần đất này các bên không tranh chấp.

Nay ông S yêu cầu Tòa án buộc ông L và bà Ú trả cho ông phần đất lấn chiếm theo đo đạc thực tế có diện tích 137,7 m² trong đó ngang tiền 6,85 m, ngang hậu 4m, cạnh phải giáp bà Phạm Thị B1 dài 25,46 cm, cạnh trái giáp phần đất còn lại của ông L dài 25,70 m, đất tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Đối với phần đất lộ giao thông và phần đất kênh rạch từ lộ đến Kênh N Chua ông S không yêu cầu.

Bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Mã Thị Ú thống nhất trình bày:

Ông L và bà Ú thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về nguồn gốc đất tranh chấp, diện tích đất và tứ cận đất. Theo ông L và bà Ú xác định thời điểm đổi đất hai bên đều biết phần đất đổi của ông S có dư nhưng ông S đồng ý cho luôn phần đất dư và chỉ tính tròn phần đất đổi là 01 công tầm lớn và 01 công đổi ngang 01 công, việc cho đất chỉ nói miệng do hai bên là anh em họ, không có làm giấy tờ gì. Từ lúc giao đất đến nay ông bà canh tác ổn định, không tranh chấp với ai và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng năm 1994.

Phần đất tranh chấp hiện nay ông L bà Ú có trồng một số cây ăn trái như dừa, me, không xây dựng công trình gì do đây là phần đất ranh.

Theo ông L và bà Ú thời điểm chuyển đổi thì ông S chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi đổi đất thì ông L mới đăng ký quyền sử dụng đất và được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông bà không nhớ chính xác thời điểm đổi đất nhưng việc đổi đất là khoảng năm 1986 vì khi đó ông bà về ở trên phần đất này thì mới sinh người con trai tên Nguyễn Văn K nên việc quản lý đất của ông bà là gần 40 năm không tranh chấp với ai. Quá trình quản lý đất 3 mặt đều có mương ranh chung bao quanh, phía cạnh trái giáp ông Nguyễn Quốc N1 ngày trước có mương chung nhưng nay đã san lắp chỉ còn con mương lạng, tuy nhiên ông bà cũng không có tranh chấp gì. Nguyên nhân tranh chấp là do trước đây ông L có nuôi cá sấu rồi xả thải ra con mương này thì ông S không đồng ý. Trong khi đất là của ông L cho ông S sử dụng chung làm đường nước và ông cũng không cản trở gì, vẫn cho ông S tiếp tục sử dụng ngược lại ông S lại khởi kiện ông là vô lý. Hiện nay ông L không còn nuôi cá sấu nhưng ông S cho rằng phần đất tranh chấp là đất của mình nên đòi lại.

Nay trước yêu cầu của ông S thì ông L bà Ú không đồng ý do đất này trước đây ông S đã đổi cho ông bà và ông bà đã quản lý ổn định từ năm 1986 đến nay rồi được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với bà Lương Thị B thống nhất với lời trình bày của ông S, bà không bổ sung gì thêm.

Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 25/12/2023 và bản tự khai ngày 21/8/2024, Ngân hàng N3 – Chi nhánh huyện T xác định: Căn cứ hồ sơ vay vốn của ông Nguyễn Văn L ngày vay 30/10/2023 đến hạn ngày 30/10/2024, số tiền vay: 102.000.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi tính đến ngày 28/8/2024 là 104.397.699 đồng. Trong đó vốn 102.000.000 đồng, tiền lãi 2.397.699 đồng, để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, ông L có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của phần đất tranh chấp. Nay Ngân hàng yêu cầu buộc hộ vay trả nợ vay và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/8/2024 Ngân hàng có đơn xin rút yêu cầu độc lập đối với ông Nguyễn Văn L do việc giải quyết vụ án không ảnh hưởng đến khoản vay tại Ngân hàng. Trường hợp Ngân hàng có yêu cầu sẽ kiện thành vụ kiện khác.

Tại phiên tòa:

Ông S vẫn giữ nguyên yêu cầu ông L và bà Ú trả lại phần đất đã lấn chiếm theo đo đạc thực tế có diện tích 137,7 m² tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Yêu cầu ông L bà Ú trả lại phần đất trên để ông S bà B tiếp tục canh tác.

Ông L và bà Ú vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, không đồng ý trả đất cho ông S.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.

Về nội dung: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại đất, đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của Ngân hàng.

Án phí và chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Phạm Văn S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn L và bà Mã Thị Ú trả lại phần đất lấn chiếm. Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Phần đất tranh chấp tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, vì vậy, yêu cầu khởi kiện của ông S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Luật đất đai; khoản 9 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với Ngân hàng N3 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng trong vụ án, được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để xét xử nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Phạm Văn S với ông Nguyễn Văn L và bà Mã Thị Ú là thực tế có xảy ra. Tại Bản vẽ trích đo hiện trạng lập ngày 26/6/2023 của Công ty TNHH T1 thể hiện phần đất tranh chấp là đất nuôi trồng thủy sản được giới hạn bởi các mốc M15M16M13M14M15 có diện tích theo đo đạc thực tế 137,7m², thuộc một phần thửa đất số 763 và 354, tờ bản đồ địa chính số 09 (bản đồ chỉnh lý năm 2016), tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T ký cấp ngày 18/02/1994 cấp cho ông Nguyễn Văn L, được các đương sự thống nhất về kích thước, diện tích và vị trí đất tranh chấp.

[3] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Các đương sự đều thống nhất về nguồn gốc đất tranh chấp có nguồn gốc của ông S hoán đổi với ông L. Theo ông S do khi đổi đất hai bên không đo đạc nên khi phát hiện phần đất hoán đổi cho ông L dư so với thỏa thuận đổi nên ông S yêu cầu đòi lại phần đất dư. Theo ông L việc đổi đất diễn ra từ nhiều năm trước, thời điểm đổi đất ông S có biết việc dư đất nhưng do hai bên thỏa thuận đổi nguyên thửa nên không đo và ông S chấp nhận việc đổi dư đất này.

[4] Tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phần đất tranh chấp được ông L kê khai đăng ký quyền sử dụng đất lần đầu, ông L sử dụng ổn định không tranh chấp. Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện đúng quy định của pháp luật tại thời điểm cấp.

[5] Xét quá trình quản lý, sử dụng đất: Các bên thừa nhận vào năm 1986 thỏa thuận hoán đổi đất, sau khi hoán đổi thì ông L quản lý sử dụng đất từ đó đến nay, còn ông S cho rằng ông cho ông L mượn đất nhưng ông S không cung cấp được chứng cứ chứng minh thực tế có việc ông cho ông L mượn đất, mà thực tế sau khi ông L quản lý đất thì đào đường mương để sử dụng, còn ông S để trống phần đất phía sau giáp ranh với phần đất đổi do trồng lúa không trúng. Sau khi khu vực này chuyển sang nuôi tôm thì ông S nhờ phần đất này để làm đường dẫn nước vào vuông tôm và được ông L đồng ý cho sử dụng chung. Qua xem xét hiện trạng thì phần đất tranh chấp có một phần đất thịt, một phần là đường mương nước và là ½ con mương chung giữa ông L và hộ giáp ranh là bà Phạm Thị B1.

Từ thời điểm đổi đất năm 1986 đến nay là 38 năm thì ông S cũng không đòi lại phần đất này, còn ông L cũng đồng ý để ông L tiếp tục sử dụng mà không có yêu cầu gì đối với ông S. Đến năm 2022 phát sinh tranh chấp thì ông S mới yêu cầu đến UBND xã T giải quyết là không hợp lý. Bên cạnh đó, ông L là người trực tiếp canh tác phần đất tranh chấp, cải tạo thành hiện trạng như hiện nay. Trên tổng diện tích hoán đổi ông L có làm bờ bao quanh cả phần đất tranh chấp. Đối với phần đất tranh chấp được xác định là một phần đường mương nước sử dụng chung giữa ông L với hộ giáp ranh là bà B1 (là em ruột ông S) được hai bên thống nhất về ranh giới đất không có tranh chấp. Còn ông S cũng là hộ giáp ranh với ông L ở phần hậu đất biết rõ việc ông L được cấp giấy chứng nhận vào năm 1994 nhưng không phản đối, không có yêu cầu gì đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L.

[6] Như vậy, ông S không có căn cứ chứng minh quá trình quản lý, sử dụng đất tranh chấp cũng như việc được Nhà nước công nhận hoặc đã được cấp quyền sử dụng đất, trong khi đó ông L là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất ổn định, liên tục, công khai trong nhiều năm liền và đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp. Do đó, ông L là người sử dụng đất hợp pháp đối với phần đất trên.

[7] Từ những căn cứ trên, xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S về việc buộc ông L giao trả phần đất có 137,7 m², tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

[8] Đối với Ngân hàng N3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập nhưng rút yêu cầu trước khi mở phiên tòa nên đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Ngân hàng trong vụ án này. Trường hợp có yêu cầu sẽ giải quyết trong vụ án khác.

[9] Tại biên bản xem xét thẩm định phần đất tranh chấp và các tài sản có trên phần đất tranh chấp ngày 14/6/2023 và chứng thư thẩm định giá thể hiện phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế có diện tích 137,7m² được định giá 12.952.600 đồng (tính tròn số). Trên phần đất tranh chấp ông L có trồng một số cây lâu năm như dừa, me,... nhưng các đương sự không có yêu cầu xử lý đối với các tài sản này.

[10] Chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc 5.027.000 đồng và thẩm định giá tài sản 5.500.00 đồng. Tổng cộng 10.527.000 đồng được ông S tạm ứng thanh toán. Do yêu cầu của ông S không được chấp nhận nên ông S phải chịu các chi phí trên là phù hợp theo quy định tại Điều 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự.

[11] Về án phí: Ông S được miễn án phí do thuộc đối tượng người cao tuổi. Trả lại án phí cho Ngân hàng.

[12] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở nên chấp nhận.

[13] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại đất để nguyên đơn làm đường nước tiếp tục nuôi tôm thấy rằng việc đòi lại đất của nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận như đã phân tích ở trên. Xét đây là con mương chung giữa ông L với bà Phạm Thị B1, trường hợp không chấp nhận yêu cầu của ông S thì ông S có quyền thỏa thuận sử dụng chung đường nước với bà B1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 166 và Điều 203 Luật đất đai; Điều 147, 157, 165, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Văn S về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn L trả lại đất đối với phần đất có diện tích 137,7 m² tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
  2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của Ngân hàng N2 về việc buộc hộ vay thanh toán nợ vay.
  3. Về chi phí xem xét thẩm định, đo đạc và thẩm định giá tài sản: Ông Phạm Văn S phải chịu số tiền 10.527.000 đồng, ông S thanh toán xong.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Phạm Văn S được miễn dự nộp tạm ứng án phí theo Thông báo số 224 ngày 04/10/2022 do thuộc đối tượng người cao tuổi.

    Ngân hàng N2 không phải chịu án phí. Ngày 22/3/2023 Ngân hàng đã dự nộp 568.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003477 được nhận lại.

  5. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Huỳnh Phạm Lan Chi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 115/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 115/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ranh đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger