Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:137/2024/HSST

Ngày: 20-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Ngọc Khánh và bà Nguyễn Thị Quy.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xét xử B – Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, hình thức xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 151/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại các điểm cầu:

  1. Điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Đ gồm có:

    Trương Văn C, sinh năm 1992, tại Đồng Nai (có mặt)

    Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp:làm thuê; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc:Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Trương Thị Bích T, sinh năm 1957; anh chị em ruột 03 người, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/3/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Đ.

  2. Điểm cầu trung tâm: Hội trường B – Tòa án nhân dân huyện Định Quán gồm có:

    Người làm chứng: Ông Tăng Ngọc M, sinh năm 2003 (vắng mặt)

    Địa chỉ:ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Văn C là người nghiện ma túy từ đầu năm 2022. Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/3/2024 C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu biển số 60H7 - 2761 đi về nhà, trên đường đi C có qua đoạn đường thuộc ấp T, xã P, huyện Đ. Tại đây, C gặp người bạn tên P (C không rõ nhân thân lai lịch của P chỉ biết P hiện đang sinh sống tại ấp T, xã P, huyện Đ). Qua nói chuyện với nhau, P có đặt vấn đề cho C số tiền 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) với điều kiện C phải cầm bịch ma túy được cuốn trong chiếc khẩu trang màu đen của P đưa đến cho người bạn của P ở đoạn đường gần C thuộc ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai và C cầm số tiền 5.000.000đồng (năm triệu đồng) từ bạn P đưa về cho P, C đồng ý. C nhận ma túy từ P và giấu ma túy trong lòng bàn tay trái và tiếp tục điều khiển xe đi đến địa điểm P yêu cầu. Tại đây, trong quá trình chờ đợi bạn P đến nhận ma túy thì C đã bị lực lượng công an kiểm tra. Khi thấy lực lượng Công an do hoảng sợ, C đã ném bịch ma túy được cuốn trong chiếc khẩu trang màu đen đang cầm trên tay trái xuống dưới đất ngay vị trí C đang đứng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

* Vật chứng vụ án:

  • 01 bịch nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng được giấu trong chiếc khẩu trang màu đen thu giữ dưới đất ngay vị trí C đang đứng.
  • 01 xe mô tô biển số 60H7 -2761.

Bản Kết luận số 564/KL-KTHS ngày 26/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định: Mẫu tinh thể màu trắng được niềm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng: 10,1825 gam loại Methamphetamine.

Theo cáo trạng số 284/CT-VKS-ĐQ ngày 21/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo Trương Văn C về tội “ Vận chuyển trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h, khoản 2, Điều 250 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm h, khoản 2, Điều 250; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo C mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

* Vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong sau giám định số 564/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ là vật cấm lưu hành và sử dụng.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý về tội danh. Về hình phạt bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 17/3/2024, tại đoạn đường thuộc ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, lực lượng Công an huyện Đ đã bắt quả tang Trương Văn C đang có hành vi vận chuyển trái phép 10,1825 gam ma túy loại Methamphetamine cho đối tượng tên P không rõ nhân thân lai lịch để lấy 200.000 đồng tiền công. Như vậy, hành vi của C đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Vận chuyển trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm h, khoản 2, Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là đúng người đúng tội, có căn cứ pháp luật.

[2] Về tình tiết tăng nặng: không có.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có trình độ học vấn thấp nên sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế. Được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Căn cứ quyết định hình phạt: Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy và phòng chống ma túy, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Vì vậy Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển... trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho bị cáo 01 mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, năn năn hối cải, là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có trình độ học vấn thấp nên sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế nên xem xét giảm nhẹ 01 phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước, quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

- Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong sau giám định số 564/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/08/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán.

- Về các vấn đề khác:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda gắn biển số 60H7 -2761, quá trình điều tra xác định người đứng tên đăng ký chủ sở hữu là bà Hoàng Kiêm L sinh năm 1959, trú tại khu phố C, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, qua làm việc bà L cho biết bà đã bán xe mô tô trên vào năm 2014 cho một người tên T1 ở khu vực xã P, huyện Đ với giá 5 triệu đồng việc mua bán chỉ làm giấy tờ viết tay và giấy tờ xe đã thất lạc. Hiện Cơ quan điều tra chưa xác định và làm việc được với người tên T1 nên chưa có cơ sở để xử lý, Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.

Đối với đối tượng tên thường gọi là P mà C khai nhận đã đưa ma túy cho C để vận chuyển lấy tiền công, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.

[6] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Xét quan điểm của Viện kiểm sát về mức hình phạt phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 2, Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • Điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Khoản h, khoản 2, Điều 250; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  1. Tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
    1. Xử phạt bị cáo Trương Văn C 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/03/2024.

    Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

  2. Vật chứng vụ án:

    - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong sau giám định số 564/KL-KTHS ngày 26/03/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Quán.

  3. Về án phí: Bị cáo Trương Văn C phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo C biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán;
  • - CQCSĐT Công an huyện Định Quán;
  • - CQ THA hình sự Công an huyện Định Quán;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Thúy Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HSST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về vận chuyển trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 137/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vận chuyển trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger