Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DIỄN CHÂU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 137/2024/HS-ST

Ngày: 20/9/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng

Các hội thẩm nhân dân: Ông Cao Đức Giang và bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Vân - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 20/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu; Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 136/2023/TLST - HS ngày 26/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2024/QĐXXST – HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 24/5/1995 tại xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Chức vụ trước khi phạm tội: không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Hồng P, sinh năm 1958; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1958; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ: Hồ Thị T1, sinh năm 2001: có 01 con, sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện D. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 05/7/2024 Nguyễn Hữu T đang ở nhà thì nảy sinh ý định mua ma túy về sử dụng nên T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max của vợ là chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 2002, trú cùng xóm với T kết nối Z liên lạc với một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể có tên Z là “Mỏ út” để mua 300.000 đồng tiền ma túy hồng phiến. Người này đồng ý và hẹn Nguyễn Hữu T xuống xã D, huyện D để giao ma túy. Sau đó, T điều khiển xe máy Honda loại Airblade, biển kiểm soát 37 P8- 6950 xuống điểm hẹn, gặp người đàn ông đó, T đưa 300.000 đồng rồi người đó chỉ cho T chỗ cất giấu ma túy. Nguyễn Hữu T đi theo chỉ dẫn, đến cổng chào xóm H, xã D, huyện D đi vào khoảng 200 m chỗ gốc cây bàng, dưới viên đá thì thấy có bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có các viên ma túy hồng phiến. Sau khi lấy được ma túy, Nguyễn Hữu T cầm ở lòng bàn tay phải và đi về nhà. Khi đi đến khu vực cổng chào xóm H, xã D, huyện D thì bị tổ công tác công an xã D phát hiện bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trên mặt đường cạnh vị trí T đứng 01 bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 01 gói nilon màu đen, bên trong chứa 03 viên ma túy hồng phiến giống nhau. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng và dẫn giải Nguyễn Hữu T về trụ sở Công an xã D để làm việc.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập hồi 17 giờ 30 phút ngày 05/7/2024 và Kết luận giám định số 756 /KL-KTHS (Đ2- MT) ngày 11/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu các viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Hữu T gửi tới giám định là ma túy, loại methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Hữu T có tổng khối lượng là 0,3 gam.

Tại bản cáo trạng số 154/CT-VKS-DC ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư niêm phong đúng quy định bên trong có 0,2 gam methamphetamine là số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 01 mảnh nilon màu đen, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 01 phong bì thư ban đầu. Số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng thuộc Công an huyện D

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện D, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án thì đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 14 giờ 30 ngày 05/7/2024, tại khu vực đường công chào xóm H thuộc xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, tổ công tác công an xã D phát hiện bắt quả tang Nguyễn Hữu T đang có hành vi tàng trữ trái phép tổng khối lượng là 0,3 gam ma túy methamphetamine với mục đích để sử dụng. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định của Bộ luật Hình Sự.

[3].Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý; gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, vì vậy cần xét xử nghiêm minh và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày sau khi tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: không

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Hữu T (theo lời khai của T). Tuy nhiên, T không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể nên cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện D không có căn cứ để điều tra xác minh làm rõ.

[4]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm, không có tài sản nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền.

[5]. Về vật chứng:

- Một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên miễn xét;

- Một chiếc xe máy nhãn hiệu Hoda Air Blade màu đen bạc, BKS 37P8- 6950 đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên miễn xét;

- Một phong bì thư niêm phong đúng quy định bên trong có 0,2 gam methamphetamine là số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 01 mảnh nilon màu đen, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 01 phong bì thư ban đầu cần tịch thu tiêu hủy.

Số vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện D theo Phiếu nhập kho số 24NK140 và Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/8/2024.

[6]. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

    Xử phạt: Nguyễn Hữu T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 05/7/2024).

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

    Tịch thu tiêu huỷ một phong bì thư niêm phong đúng quy định bên trong có 0,2 gam methamphetamine là số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 01 mảnh nilon màu đen, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long và 01 phong bì thư ban đầu cần tịch thu tiêu hủy.

    Số vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện D theo Phiếu nhập kho số 24NK140 và Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/8/2024.

  3. Về án phí: Căn cứ điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Diễn Châu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an, THA Hình sự huyện Diễn Châu;
  • - THA Dân sự huyện Diễn Châu;
  • - Trại tạm giam;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Danh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 137/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo tạm giam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger