|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 137/2024/HS-ST Ngày: 17/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Hải
2. Ông Nguyễn Văn Hòa
Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến giữa điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 122/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:
1. Bị cáo Đoàn Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 12/04/1954 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT và C ở hiện nay: Tổ H, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/10; Con ông: Đoàn Văn Đ (đã chết); Con bà: Hoàng Thị H (đã chết); A, chị, em ruột: Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Đoàn Thị H1 - sinh năm 1958 (địa chỉ: Tổ H, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); con: Có 02 con, một con sinh năm 1978, một con sinh năm 1982.
Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 08/6/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Năm 1987 Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (PC14) xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc.
- Ngày 26/8/1994 Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Mua bán các chất ma túy;
- Ngày 26/6/2012 Tòa án nhân dân thị xã Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Ngày 21/7/2017 Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo Nông Văn V; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/05/1966 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ H, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Con ông: Nông Văn D (đã chết), Con bà: Vương Thị K - sinh 1932 (Địa chỉ: Tổ H, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); A, chị, em ruột: Bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ: Nông Thị Q1 – sinh năm 1970 (địa chỉ: Tổ H, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng); con: bị cáo có 02 con, một con sinh năm 1992, một con sinh năm 1997.
Tiền án: Không; Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân sử dụng ma túy và muốn được hưởng lợi từ việc mua bán ma túy nên khoảng 15h00 ngày 27/5/2024 Đoàn Văn Q một mình đi bộ từ nhà đến khu vực gần bến xe khách liên tỉnh Cao Bằng thuộc tổ A, phường Đ, thành phố C để tìm mua ma túy. Tại đây Đoàn Văn Q đã gặp và mua 1.000.000 đồng tiền ma túy với một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ) được 01 gói ma túy được gói bằng giấy bạc màu vàng. Đoàn Văn Q cầm lấy gói ma túy cất vào người rồi đi về nhà. Từ ngày 27/5/2024 đến ngày 29/5/2024, mỗi ngày Đoàn Văn Q đều bớt lấy ma túy ra để sử dụng một ít cho bản thân rồi gói lại cất vào trong người. Khoảng 11h30 phút ngày 29/5/2024 Nông Văn V đến nhà Đoàn Văn Q hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy. Q đồng ý, nhận tiền rồi đưa cho V số ma túy còn lại gói trong giấy bạc màu vàng. Khi cả hai vừa trao đổi mua bán xong, Vẫn quay người để đi ra cổng thì bị cơ quan công an phát hiện và bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải chiếc quần Vẫn đang mặc; Số tiền 200.000 đồng thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải chiếc quần Q đang mặc.
Hồi 12h50 phút cùng ngày cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Văn Q tại tổ H, phường Đ, thành phố C, không phát hiện thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Tiến hành cân xác định khối lượng tang vật thu giữ kết quả như sau: Tang vật quả tang thu giữ của Nông Văn V có khối lượng 0,12g (không phẩy mười hai gam).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành Trưng cầu giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 718 ngày 30/5/2024 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 307/KL-KTHS ngày 05/06/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: "Chất bột màu trắng thu giữ của các đối tượng gửi giám định đều là ma túy, loại: Heroine".
Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Đoàn Văn Q khai nhận: Số tiền bị cáo sử dụng để mua ma túy là của bị cáo lao động mà có, mục đích bị cáo mua ma túy là để sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Khi Q vừa bán được 01 gói cho Vẫn thì bị bắt giữ. Với số tiền cơ quan điều tra thu giữ trên người bị cáo, bị cáo không có ý kiến gì. Bị cáo nhất trí với kết luận giám định chất ma túy
Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn V thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với biên bản cân khối lượng ma túy và kết luận giám định số 307/KL-KTHS ngày 05/6/2024. Bị cáo khai nhận mua ma túy về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, số tiền bị cáo sử dụng để mua ma túy là tiền của bị cáo lao động mà có. Đây là lần đầu bị cáo mua ma túy với Q.
Tại phiên tòa các bị cáo bày tỏ thái độ ăn năn hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bản thân.
Hành vi của bị cáo Đoàn Văn Q đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi của bị cáo Nông Văn V đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số: 131/CT-VKSTP ngày 16/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Đoàn Văn Q về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và truy tố bị cáo Nông Văn V về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với bị cáo Đoàn Văn Q, tại thời điểm xét xử bị cáo đã đủ 70 tuổi, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có bố là người hoạt động cách mạng trước ngày tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Bị cáo Đoàn Văn Q có 01 tiền án chưa được xóa án tích. Do vậy bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đoàn Văn Q.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nông Văn V.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Q phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; bị cáo Nông Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nông Văn V từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "Số 307/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Nông Văn V và Đoàn Văn Q, có hành vi Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy" (Kèm theo kết luận giám định số 307KL-KTHS, ngày 05/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C);
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Tiền việt nam 200.000 đồng. (Kèm theo kết luận giám định số 382KL-KTHS, ngày 28/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm quay trở về với gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tội danh:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Do vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định được: Hồi 11h35' phút ngày 29/5/2024 tại khu vực tổ H, phường Đ, thành phố C. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma tuý Công an thành phố C bắt quả tang Đoàn Văn Q vừa có hành vi bán trái phép 0,12g (không phẩy mười hai gam) ma túy, loại Heroine cho Nông Văn V mua về sử dụng cho bản thân.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo Đoàn Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015
Hành vi của bị cáo Nông Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo là người người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, bị cáo Đoàn Văn Q có nhân thân rất xấu, bị Tòa án xét xử nhiều lần về hành vi liên quan đến ma túy và hành vi vi phạm pháp luật khác.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo hành về vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với bị cáo Đoàn Văn Q, tại thời điểm xét xử bị cáo đã đủ 70 tuổi, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có bố là người hoạt động cách mạng trước ngày tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đoàn Văn Q có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại có hành vi vi phạm pháp luật, do vậy phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là Tái phạm quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Nông Văn V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
[4]. Về hình phạt chính: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Đoàn Văn Q từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù; đối với bị cáo Nông Văn V từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù; Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo là hoàn toàn phù hợp bởi bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án trên bị cáo Đoàn Văn Q đã bị Tòa án xét xử nhiều lần về hành vi liên quan đến ma túy nhưng không lấy đó làm bài học mà lại còn tiếp phạm tội liên quan đến ma túy, hành vi vi phạm của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, do vậy cần áp dụng hình phạt cao nhất theo đề nghị của kiểm sát viên mới phù hợp với hành vi của bị cáo. Đối với bị cáo Nông Văn V, bị cáo phạm tội lần đầu, khối lượng ma túy tàng trữ không lớn, do vậy áp dụng hình phạt với mức khởi điểm theo đề nghị của kiểm sát viên là phù hợp với hành vi của bị cáo
[5]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với vật chứng là số ma túy thu giữ được của các bị cáo, Xét thấy đây là những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội, nhà nước cấm lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của Đoàn Văn Q, xét thấy đây là số tiền bị cáo Nông Văn V dùng để mua ma túy với bị cáo Đoàn Văn Q, các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, do vậy cần tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với số tiền trên.
[7]. Về các vấn đề khác:
Về nguồn gốc số Heroine thu giữ với bị cáo Đoàn Văn Q, bị cáo khai được mua với một người đàn ông không rõ tên và địa chỉ tại bến xe khách thành phố C. Quá trình trao đổi mua bán không ai biết, chứng kiến nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có căn cứ để xử lý.
[8]. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Đoàn Văn Q, Nông Văn V phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Văn Q phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
Bị cáo Nông Văn V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s, o khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn Q 03 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 29/5/2024.
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Nông Văn V 12 tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 29/05/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
- Tịch thu, tiêu hủy:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Tiền việt nam 200.000 đồng. (Kèm theo kết luận giám định số 382KL-KTHS, ngày 28/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C.
01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "SỐ 307/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Nông Văn V và Đoàn Văn Q, có hành vi Mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy" (Kèm theo kết luận giám định số 307KL-KTHS, ngày 05/06/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C);
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 152 ngày 16/08/2024.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc các bị cáo Đoàn Văn Q, Nông Văn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Xuân Huy |
Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 137/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý, Tàng trữ trái phép chất ma tuý
