Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2023/HS-ST

Ngày 15/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Yến;

Ông Lê Thành Thật.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 144/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Dưỡng T (Cảnh cháy), sinh năm 1987, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ B, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Trần Thị L; chưa có vợ, con;

Tiền án:

Ngày 17/11/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/10/2021;

Ngày 23/3/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/5/2022;

Tiền sự: Không;

Nhân thân:

Ngày 12/8/2002, bị Ủy ban nhân dân tỉnh A ra Quyết định áp dụng biện

pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Trường G, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 08/9/2004;

Ngày 23/10/2019, bị Công an phường M, thành phố L xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đã nộp phạt ngày 28/10/2019.

Bị tạm giam từ ngày 19/7/2023 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L; có mặt.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Bà Bùi Trần Phú T1, sinh năm 1976; là Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A; địa chỉ: số G, đường H, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; có mặt.

Bị hại: Nhà khách T4; địa chỉ: số A, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Bùi Thị Ngọc T2, sinh năm 1986 – Chức vụ: Phó Giám đốc nhà hàng T5; địa chỉ: số A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số 07-UQ/NKTL ngày 03/8/2023 của Giám đốc nhà khách T4); vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 19/7/2023, Dưỡng T đi qua nhà nhà hàng T5, thuộc số I đường L, khóm B, phường M, thành phố L thấy quầy thu ngân của nhà hàng không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Để thực hiện ý định, C vào quầy thu ngân lấy trộm 2.321.000 đồng (để trên quầy) bỏ vào túi quần rồi bỏ đi. Đến khoảng 15 giờ 55 phút cùng ngày, chị Nguyễn Thị Hiền T3 là thu ngân của nhà hàng phát hiện bị mất tiền nên trình báo Công an phường M. Trong ngày, C đến Công an phường M đầu thú và giao nộp số tiền 2.321.000 đồng.

- Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng: Số tiền 2.321.000 đồng, đã giao trả cho Nhà khách Thắng Lợi.

Ngày 19/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L bắt tạm giam Cảnh, để điều tra xử lý.

- Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 354/2023/KLGĐ ngày 14/9/2023 của Trung tâm P ghi nhận Dưỡng T, sinh năm 1987 như sau:

Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 19/7/2023 và hiện tại: đương sự có bệnh lý tâm thần; chậm phát triển tâm thần nhẹ (F70-ICD10).

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm thực hiện hành

vi trộm cắp tài sản ngày 19/7/2023 và hiện tại: đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Tại Cáo trạng số 149/CT-VKSLX-HS ngày 01 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Dưỡng Thanh C1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h khoản 1 Điều 52, các điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo D Thanh Cảnh từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng, sau khi nhận lại tài sản bị hại không yêu cầu bồi thường và trong giai đoạn điều tra Cơ quan điều tra đã giao trả tài sản cho bị hại xong nên không đề cập giải quyết.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với lời luận tội của Kiểm sát viên về quan điểm truy tố, không tranh luận về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử có quan tâm, xem xét cho bị cáo. Bởi vì, sức khỏe của bị cáo bị hạn chế, khó tìm được công việc phù hợp để tạo ra thu nhập chính đáng nuôi sống bản thân nên dẫn đến việc phạm tội của bị cáo; học vấn thấp nên am hiểu pháp luật còn hạn chế; thuộc thành phần lao động nghèo; sau khi chiếm đoạt tài sản đã được thu hồi, thiệt hại vật chất được khắc phục.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi bị truy tố bị cáo, bị cáo khai nhận do không có tiền tiêu xài nên khoảng 15 giờ 50 phút ngày 19/7/2023, phát hiện trên quầy thu ngân của nhà hàng T5 2 có để tiền nhưng không người trông giữ nên lén lút chiếm đoạt rồi để vào túi quần thì nhanh chóng tẩu thoát. Trong ngày, thì đến Công an phường M đầu thú và thừa nhận hành vi phạm tội.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú ngày 19/7/2023 do Cán bộ Công an phường M, thành phố L lập; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản khám nghiệm hiện trường cùng sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường kèm theo.

Ngoài ra, lời khai của bị cáo còn phù hợp với vật chứng bị thu giữ là số tiền 2.321.000 đồng.

Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định, khi phát hiện bị hại sơ hở trong việc bảo quản tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt số tiền 2.321.000 đồng do nhà khách Thắng Lợi quản lý, sử dụng.

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, tuy hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng bị cáo vẫn nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện thông qua việc lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác trông coi tài sản của bị hại, để thực hiện hành vi chiếm đoạt, cất giấu, nhanh chóng tẩu thoát nhằm tránh sự phát hiện của bị hại và Cơ quan chức năng. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, quyền sở hữu là một trong những quyền thiêng liêng gắn với mỗi cá nhân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong lĩnh vực luật hình sự, những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.

Bị cáo là người đang ở tuổi lao động. Đáng lẽ, bị cáo phải tìm một công việc phù hợp cho bản thân để tạo ra thu nhập chính đáng để nuôi sống bản thân, gia đình nhưng vì hám lợi, bị cáo trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần có hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Bị cáo đã từng bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do lỗi cố ý. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân không tốt, theo đó, ngoài 02 tiền án, bị cáo còn bị Ủy ban nhân dân tỉnh A ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Trường G, thời hạn 24 tháng vào ngày 12/8/2002 và bị Công an phường M, thành phố L xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” vào ngày 23/10/2019.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Về hình phạt bổ sung, do bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã giao trả cho bị hại số tiền 2.321.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề cập xử lý lại.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không đề cập giải quyết.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, các điểm q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Dưỡng Thanh C1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Dưỡng T: 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giam, ngày 19/7/2023 (ngày mười chín, tháng bảy, năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Dưỡng Thanh C1 phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Long Xuyên;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQTHAHS Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQĐT Công an TP. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP. Long Xuyên;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hiệp Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 137/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 19/7/2023, Dưỡng Thanh Cảnh đi qua nhà nhà hàng Thắng Lợi 2, thuộc số 09 đường Lê Hồng Phong, khóm Bình Long 2, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên thấy quầy thu ngân của nhà hàng không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Để thực hiện ý định, Cảnh vào quầy thu ngân lấy trộm 2.321.000 đồng (để trên quầy) bỏ vào túi quần rồi bỏ đi. Đến khoảng 15 giờ 55 phút cùng ngày, chị Nguyễn Thị Hiền Trang là thu ngân của nhà hàng phát hiện bị mất tiền nên trình báo Công an phường Mỹ Bình. Trong ngày, Cảnh đến Công an phường Mỹ Bình đầu thú và giao nộp số tiền 2.321.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger