Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/HS-ST

Ngày 13-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Môn, bà Ngô Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Hà - Kiểm sát viên

Trong ngày 13 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 134/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 2003; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 10/12; Con ông Nguyễn Khắc T1, sinh năm 1976 và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1979; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 13/3/2024 đến ngày 21/3/2024 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên toà)

* Bị hại: Chị Vy Hoàng Ngọc A, sinh ngày 07/7/2007. Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

* Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Hoàng Hương V, sinh năm 1977. và ông Vy Quang H. Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Giáp Hùng D, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Thôn S, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  2. Chị Nguyễn Thị Trang N, sinh năm 2007. Nơi cư trú: Thôn G, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  3. Anh Dương Xuân N1, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  4. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  5. Anh La Anh K, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Chợ M1, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  6. Anh Bùi Long V1, sinh năm 2002. Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  7. Hoàng Thị M, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  8. Hoàng Hương V, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Huyền T và chị V2 Hoàng Ngọc A có quen biết nhau. Ngày 20/01/2024, T cùng chị Ngọc A và một số thanh niên rủ nhau đi đến thị trấn T, tỉnh Vĩnh Phúc chơi. Khoảng 05 giờ ngày 21/1/2024 sau khi cùng nhau đi chơi về, T và chị Ngọc A đến phòng trọ của anh Giáp Hùng D, sinh năm 2002 ở thôn S, xã S, thành phố B và ngủ tại đây. Đến khoảng hơn 14 giờ cùng ngày thì T ngủ dậy. Trước đó, T đi chơi cùng chị Ngọc A nên biết chị Ngọc A có 01 chiếc thẻ tín dụng, khi rút tiền chỉ cần đưa thẻ tín dụng vào máy POS là rút được tiền mà không cần mật khẩu, hạn mức được rút là 50.000.000 đồng. Chiếc thẻ tín dụng này là của bà Hoàng Hương V là mẹ đẻ của chị Ngọc A cho chị Ngọc A để sử dụng. Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc thẻ tín dụng của chị Ngọc A để đi rút tiền. T quan sát thấy chị Ngọc A vẫn đang ngủ trên giường nên đi đến vị trí để chiếc áo khoác của chị Ngọc A móc trên tường trong phòng trọ. T lục tìm và lấy được chiếc thẻ tín dụng để trong túi áo phía trước bên trái.

Sau đó, T đi sang phòng trọ bên cạnh rủ chị Nguyễn Thị Trang N đi đến phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để vay tiền của Công ty T2 thì chị N đồng ý. T điều khiển xe máy kèm chị N đi đến quán nước ở chợ M1. Tại đây, T gặp anh Dương Xuân N1 là người quen của T. T đặt vấn đề nhờ anh N1 đưa đi vay tiền của Công ty T2 thì anh N1 đồng ý giúp. Anh N1 đưa T đến cửa hàng mua bán xe máy Hưng Thịnh ở phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang để vay tiền. Chị Vi Thị P là nhân viên của Công ty T2 lập hồ sơ cho T vay tiền nhưng do phần mềm ứng dụng bị lỗi nên không làm thủ tục cho vay được.

Trên đường đi về, T nói với anh N1 là T có thẻ tín dụng của người thân và nhờ giới thiệu cửa hàng để rút tiền. Anh N1 đưa T đến cửa hàng tạp hóa của chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1989 ở tổ dân phố M, phường N, thị xã V. Tại đây, T đưa thẻ tín dụng cho chị N để nhờ rút 50.000.000 đồng trong thẻ, đồng thời nhờ chuyển khoản đến số tài khoản 00004162555 của anh N1 mở tại Ngân hàng TMCP T3. Chị N sử dụng máy POS quẹt thẻ rút 50.0000.000 đồng. Chị N chuyển khoản cho anh N1 48.750.000 đồng theo yêu cầu của T; số tiền 1.250.000 đồng là chi phí rút tiền. Sau khi chị N chuyển tiền thành công, T và anh N1 quay lại cửa hàng bán nước. Anh N1 đã chuyển khoản trả lại cho T 43.000.000 đồng vào số tài khoản 88898017546084 của T mở tại Ngân hàng TMCP H1; số tiền 5.750.000 đồng còn lại thì T tự nguyện cho anh N1 là tiền công giới thiệu cửa hàng để rút tiền. Sau đó, T và chị N đi đến cửa hàng điện thoại của anh La A1 Khôichợ M1. Tại đây, T sử dụng số tiền rút được và mua của anh K 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro với giá 15.200.000 đồng. Do cần tiền mặt nên T chuyển khoản cho anh K số tiền 20.200.000 đồng để thanh toán tiền mua điện thoại và nhờ đổi 5.000.000 đồng sang tiền mặt. Sau đó, T cùng chị N ra về. Khi về đến phòng trọ, T để chiếc thẻ tín dụng vào chiếc áo khoác của chị Ngọc A treo trên móc áo.

Khoảng 17 giờ cùng ngày, bà Hoàng Hương V phát hiện thẻ tín dụng đã bị trừ số tiền 50.000.000 đồng nên gọi điện cho chị Ngọc A hỏi lý do rút tiền thì chị Ngọc A xác định không rút tiền. Chị Ngọc A kiểm tra phát hiện thẻ tín dụng bị rút hết số tiền 50.000.000 đồng và nghi ngờ T trộm cắp nên hỏi thì T thừa nhận đã lấy trộm thẻ tín dụng đi rút hết tiền. Sau đó, T đã chuyển số tiền 22.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của anh Bùi Long V1 để nhờ chuyển cho bà V. Anh V1 đã chuyển khoản số tiền 20.000.000 đồng cho bà V và chuyển trả lại cho T 2.000.000 đồng. Do T không trả hết số tiền 30.000.000 đồng như đã hứa hẹn nên ngày 03/02/2024 chị Ngọc A làm đơn tố giác và giao nộp 01 thẻ tín dụng ngân hàng T4 số 3565865608202856 mang tên Hoàng Hương V. Ngày 13/3/2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố B triệu tập Nguyễn Thị Huyền T đến làm việc thì T đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như nêu trên.

Ngày 13/3/2024, Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Thị Huyền T thực nghiệm điều tra tại hiện trường. Kết quả T thực hiện thuần thục động tác trộm cắp chiếc thẻ tín dụng của chị V2 Hoàng Ngọc A để trong túi áo khoác móc trên tường như đã khai. Cơ quan Điều tra cho T xác định địa điểm rút tiền, địa điểm mua chiếc điện thoại di động và cho anh La A1 Khôi quan sát ảnh của Nguyễn Thị Huyền T. Kết quả T xác định đúng địa điểm rút tiền tại cửa hàng của chị Nguyễn Thị N và địa điểm mua điện thoại là tại cửa hàng điện thoại của anh La A1 Khôitổ dân phố M, phường N, thị xã V. Anh K xác định T đến mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro.

Cơ quan Điều tra đã cho chị Nguyễn Thị Trang N nhận dạng ảnh của Nguyễn Thị Huyền T. Kết quả chị N nhận đúng ảnh và xác định T có rủ đi vay tiền, mua điện thoại di động ngày 21/01/2024. Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Thị Huyền T quan sát chiếc thẻ tín dụng số 3565865608202856 mang tên Hoàng Hương V. Kết quả T xác định đây là chiếc thẻ tín dụng mà T trộm cắp của chị Ngọc A ngày 21/01/2024 sau đó đi rút tiền.

Kết quả sao kê do Ngân hàng TMCP T3 cung cấp đã xác định: Số thẻ 3565865608202856 là thẻ tín dụng mang tên Hoàng Hương V, địa chỉ: Xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ngày 21/01/2024 đã rút tổng số 05 lần với tổng số tiền rút là 50.000.000 đồng; tổ chức thanh toán thẻ là Ngân hàng TMCP S. Tại Văn bản số 198 ngày 03/6/2024 của Ngân hàng TMCP S xác định: Ngày 21/01/2024 số thẻ 3565865608202856 có phát sinh 05 giao dịch thanh toán tiền với tổng số tiền 50.000.000 đồng; các giao dịch thanh toán của số thẻ này là giao dịch có xuất trình thẻ được thực hiện tại máy POS của đơn vị chấp nhận thẻ và thanh toán không cần mật khẩu của thẻ.

Tại bản cáo trạng số 138/CT-VKS ngày 28/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Huyền T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Bị cáo T trình bày: Nội dung, diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng nêu là đúng. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan. Do bị cáo biết chị Ngọc A được bà V (mẹ chị Ngọc A) cho 01 chiếc thẻ tín dụng, trong thẻ có 50.000.000 đồng để sử dụng, khi rút tiền chỉ cần đưa thẻ tín dụng vào máy POS là rút được tiền mà không cần mật khẩu, hạn mức được rút là 50.000.000 đồng nên bị cáo đã lợi dụng lúc chị Ngọc A đang ngủ để lấy trộm chiếc thẻ tín dụng này đi rút được 50.000.000 đồng. Đến nay bị cáo và gia đình bị cáo đã hoàn trả cho gia đình chị Ngọc A đủ số tiền 50.000.000 đồng. Hiện nay bị cáo đang ở nhà, không có việc làm và được bố mẹ nuôi ăn, ở. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

* Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì đối với các lời khai được công bố.

* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huyền T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

* Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội được cải tạo tại địa phương

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi này đều hợp pháp.

[2] Về việc xác định bị hại của vụ án: Bị cáo Nguyễn Thị Huyền T trộm cắp 01 chiếc thẻ tín dụng, trong thẻ có 50.000.000 đồng của chị V2 Hoàng Ngọc A. Đây là thẻ tín dụng mang tên Hoàng Hương V. Quá trình điều tra, bà Hoàng Hương V (là mẹ đẻ chị V2 Hoàng Ngọc A) và chị Ngọc A đều trình bày: Bà V cho chị Ngọc A thẻ tín dụng và tiền trong thẻ để sử dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định chị V2 Hoàng Ngọc A là bị hại trong vụ án là phù hợp quy định pháp luật.

[3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại (chị Vy Hoàng Ngọc A), đại diện hợp pháp của bị hại (bà Hoàng Hương V, ông Vy Quang H) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Giáp Hùng D, chị Nguyễn Thị Trang N, anh Dương Xuân N1, chị Nguyễn Thị N, anh La Anh K, anh Bùi Long V1, bà Hoàng Thị M, bà Hoàng Hương V) vắng mặt nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai. Sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án.

[4] Về hành vi của bị cáo: Căn cứ đơn trình báo của bị hại, đơn xin đầu thú của bị cáo, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, các biên bản xác định hiện trường; căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Kết quả sao kê do Ngân hàng TMCP T3; Văn bản số 198 ngày 03/6/2024 của Ngân hàng TMCP S và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 21/01/2024, bị cáo Nguyễn Thị Huyền T và chị V2 Hoàng Ngọc A sau khi cùng nhau đi chơi về có đến phòng trọ của anh Giáp Hùng D để ngủ. Do biết chị Ngọc A có 01 chiếc thẻ tín dụng, trong thẻ có 50.000.000 đồng, khi rút tiền từ thẻ không cần mật khẩu nên đến khoảng hơn 14 giờ cùng ngày, lợi dụng lúc chị Ngọc A đang ngủ T đã lấy chiếc thẻ tín dụng để ở trong túi áo của chị Ngọc A, khi đó áo được treo trên móc áo tại phòng trọ. Sau đó, T sử dụng thẻ tín dụng này đi rút được 50.000.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh theo khoản, điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Để có tiền chi tiêu cá nhân bị cáo đã lén lút trộm cắp chiếc thẻ tín dụng, trong thẻ có 50.000.000 đồng rồi đem đi rút toàn bộ số tiền này của bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[8] Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Trước lần thực hiện hành vi phạm tội này, bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng bị Toà án xét xử và chưa từng bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

[9] Sau khi xem xét hành vi, tính chất, mức độ, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa từng bị xét xử, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng trở thành người có ích cho gia đình và xã hội theo Điều 65 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp, đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo.

[9] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự để phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước, xong Hội đồng xét xử thấy bị cáo là lao động tự do, hiện không có công ăn việc làm nên cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T và gia đình bị cáo đã hoàn trả và bồi thường đủ số tiền 50.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Bị hại không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[11] Anh Dương Xuân N1 được bị cáo Nguyễn Thị Huyền T nhờ đưa đi rút tiền; chị Nguyễn Thị N đã rút cho T số tiền 50.0000.000 đồng trong thẻ tín dụng. Tuy nhiên, anh N1 và chị N đều không biết T trộm cắp thẻ tín dụng của chị Ngọc A nên Cơ quan Điều tra không xử lý là có căn cứ.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[13] Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Huyền T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/7/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Thị Huyền T cho Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo Nguyễn Thị Huyền T) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo (bị cáo Nguyễn Thị Huyền T) cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Công an thành phố Bắc Giang;
  • - Cơ quan Cảnh sát Điều tra (CATP. Bắc Giang);
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - UBND thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 13/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 137/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger