|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10-6-2024
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Trí Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quang Thái và ông Nguyễn Thiện Pháp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1982; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Đ vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn L vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Đ trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn L do mai mối rồi chung sống với nhau từ năm 2005, có tổ chức đám cưới nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau một con chung tên Nguyễn Chí T, sinh ngày 02/9/2006 hiện tại ở cùng với chị. Đến năm 2015, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau và đã ly thân từ đó đến nay. Nay, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu như sau:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Văn L;
Về con chung: Có một con chung tên Nguyễn Chí T, sinh ngày 02/9/2006. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị Đ yêu cầu được nuôi cháu T, không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết;
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập bị đơn là anh Nguyễn Văn L để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Văn L vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Nguyễn Văn L cũng như không tiến hành hòa giải được.
Tòa án đã ban hành thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ và thông báo cho anh Nguyễn Văn L biết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình nhưng anh Nguyễn Văn L cũng không có ý kiến phản hồi.
Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và không có ý kiến bổ sung.
Bị đơn anh Nguyễn Văn L vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Đ vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn L vắng mặt lần thứ hai không lý do nên căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Đ.
Về hôn nhân: Do chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn L không đăng ký kết hôn nên căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn L.
Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Chí T, sinh ngày 02/9/2006. cho chị Nguyễn Thị Đ nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn L không cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về chi phí tố tụng và án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn L chung sống với nhau từ năm 2005, có tổ chức đám cưới nhưng đến nay vẫn chưa đăng ký hết hôn. Anh Nguyễn Văn L có địa chỉ thường trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chị Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Văn L, yêu cầu được nuôi con chung nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[2] Về việc có mặt, vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Đ vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn L vắng mặt lần thứ hai không lý do nên căn cứ Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Xét việc tranh chấp:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, thì: “...Điều 9. Đăng ký kết hôn
1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý...”
Và điểm b Mục 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000, thì: “...b) N và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng...”
Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, thì:
“...Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
1. N, nữ có điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...
... Điều 53. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn...
2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này...”
Theo lời khai của chị Nguyễn Thị Đ thì chị và anh Nguyễn Văn L chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2005 nhưng đến nay vẫn không đăng ký kết hôn thì việc kết hôn không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Chị Nguyễn Thị Đ có yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn L. Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở giải quyết ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, mà cần tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn L theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
[3.2] Về con chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn L có 01 con chung tên Nguyễn Chí T, sinh ngày 02/9/2006 hiện tại đang sống chung với chị Đ. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã ghi nhận ý kiến của cháu T vẫn muốn tiếp tục sống cùng chị Đ. Xét thấy, việc giao cháu T cho chị Đ tiếp tục nuôi dưỡng là cần thiết để không làm ảnh hưởng cuộc sống của cháu.
Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Chí T cho chị Nguyễn Thị Đ tiếp tục nuôi dưỡng.
[3.3] Về cấp dưỡng cho con:
Tòa án đã giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng đối với người không trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nhưng chị Nguyễn Thị Đ vẫn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.5] Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Đ không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Như các phân tích nêu trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 9; Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- 1. Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn L.
- 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Chí T, sinh ngày 02/9/2006 cho chị Nguyễn Thị Đ nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn L không cấp dưỡng cho con.
- 3. Về quan hệ tài sản:
Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về nợ chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị Đ xác định không có nợ chung. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của anh, chị trong thời kỳ sống chung thì chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn L phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
- 4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013636 ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn. Chị Nguyễn Thị Đ đã nộp đủ. Anh Nguyễn Văn L không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- 5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Trí Nguyên |
Bản án số 137/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình: ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
- Số bản án: 137/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Anh Trần Văn U yêu cầu được ly hôn chị Trần Thị Hương T; Về con chung: Có hai con chung tên Trần Thị Kim T, sinh ngày 14/11/2012; Trần Thị Minh T, sinh ngày 17/10/2007. Khi ly hôn anh Trần Văn U yêu cầu được nuôi cháu Thoại, giao cháu Th cho chị Th nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
