Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/HS-ST

Ngày 07-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Trịnh Nhật - Kiểm sát viên.

- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Lê Long Bảo – Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến tại điểm cầu trung tâm (Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Trại Tạm giam Công an thành phố H) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Quốc H (tên gọi khác: Lê Quốc T), sinh ngày 20 tháng 7 năm 1968 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn E, xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quốc L và bà Đinh Thị C; có vợ là Nguyễn Thị N và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Có 01 tiền án đã được xoá án tích tại Bản án số 33/2019/HSST ngày 14/6/2019 Tòa án nhân dân huyện An Dương, Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ ngày 23/11/2023, tạm giam ngày 30/11/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 15 phút ngày 23/11/2023, tại thôn D xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng, tổ công tác Công an huyện A kết hợp với Công an xã B tiến hành tuần tra, kiểm soát phát hiện Lê Quốc H và một nam giới lạ mặt đi xe máy có biểu hiện nghi vấn mua bán chất ma túy nên đã tiến hành kiểm tra. Khi thấy lực lượng công an, H đã vứt gói nilon màu đen đang cầm trên tay xuống bụi cỏ ven đường, còn nam giới lạ mặt điều khiển xe bỏ chạy. Kiểm tra gói nilon màu đen, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi ma túy (mẫu QT01). Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, thu giữ số tiền 1.290.000 đồng của Lê Quốc H.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Quốc H thu giữ: chất bột màu trắng dạng cục trên mảnh giấy để trên giá ti vi (mẫu KX01), 01 gói nilon màu đen bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục trên viền mép bàn thờ (mẫu KX02), 01 gói giấy chứa chất bột màu trắng trên mặt bàn thờ (mẫu KX03), 08 mảnh giấy kích thước trung bình (4,5x4,5)cm, ½ dao lam và 01 mảnh nilon màu đen kích thước (10x60)cm trong phòng khách; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu xanh do H giao nộp.

Xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của Lê Quốc H, kết quả dương tính với test thử chất ma túy M.

Bản Kết luận giám định số 962/KL-KTHS ngày 27/11/2023 của Phòng K Công an thành phố H đối với các mẫu vật thu giữ của Lê Quốc H, kết luận: “Chất bột màu trắng của mẫu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,06 gam, loại Heroine. Chất bột màu trắng của các mẫu KX01, KX02, KX03 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,86 gam, loại Heroine”.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Quốc H khai: Chất ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang và tại nơi ở của H là do H mua của đối tượng không quen biết tại khu vực đường tàu thuộc Quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 20/11/2023 đem về nhà chia ra để bán kiếm lời và sử dụng. Sáng ngày 23/11/2023, H cầm theo một gói ma túy H1 đi ra khu vực thôn D xã B để bán. Khi ra đến đường trục thôn, có một nam giới đi xe máy đến gặp H hỏi mua 100.000 đồng ma túy H1; H nhận tiền đút vào túi quần, chưa kịp đưa ma túy cho khách thì bị Công an phát hiện bắt giữ. H thường bán ma túy trước cổng nhà hoặc đi ra đường để bán; trước đó vào các ngày 16, 19/11/2023 H đã bán cho Lưu Văn C1, sinh năm 1989, trú tại thôn C, xã B, A, thành phố Hải Phòng mỗi lần một gói ma túy giá 100.000 đồng.

Cáo trạng số 135/CT-VKSAD ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lê Quốc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Lê Quốc H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Số tiền 1.290.000đồng vừa là tiền bị cáo bán ma túy vừa tiền do bị cáo lao động mà có nhưng bị cáo không biết tiền bán ma túy là bao nhiêu; đối với điện thoại di động nhãn hiệu Redmi là tài sản của bị cáo, trong điện thoại có tin nhắn liên quan đến việc mua bán ma túy. Bị cáo nhận thức hình vi của mình là trái pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Quốc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quốc H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt tiền bị cáo 10.000.000đồng để sung vào ngân sách Nhà nước. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 08 mảnh giấy màu trắng, kích thước trung bình (4,5x4,5)cm, 01 mảnh nilon màu đen, kích thước (10x60)cm và ½ dao lam; tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.290.000đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, với Kết luận giám định số 962/TB-KTHS ngày 27/11/2023 và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Hồi 7 giờ ngày 23/11/2023, tại thôn D xã B, huyện A, thành phố Hải Phòng Lê Quốc H bị bắt quả tang khi đang bán trái phép 0,06 gam ma túy loại Heroin và cất giấu 2,86 gam ma túy loại Heroin tại nơi ở nhằm mục đích để bán kiếm lời, tổng khối lượng chất ma túy thu giữ của Lê Quốc H là 2,92 gam, loại Heroin. Hành vi bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy loại Heroin có khối lượng 2,92 gam của bị cáo nhằm mục đích kiếm lời đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Trước đó, vào các ngày 16 và 19/11/2023, H đã bán cho Lưu Văn C1 ở thôn C, xã B, huyện A, Hải Phòng mỗi lần một gói ma túy giá 100.000 đồng/gói. Như vậy, bị cáo đã bán ma túy 02 lần trở lên do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác nên cần xét xử nghiêm để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân và hình phạt: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhiều năm, biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội, bản thân bị cáo đã có một tiền án về hành vi mua bán trái phép chất ma túy tuy đã được xóa án tích nhưng chứng tỏ bị cáo là người có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém nên áp dụng mức hình phạt tù ở mức cao nhất mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét tính chất hành vi phạm tội, hoàn cảnh của bị cáo nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo ở mức khởi điểm.

[6] Về vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là loại Nhà nước cấm lưu hành và 08 mảnh giấy màu trắng, kích thước trung bình (4,5x4,5)cm, 01 mảnh nilon màu đen, kích thước (10x60)cm và ½ dao lam là đô vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 1.290.000đồng, bị cáo khai trong đó vừa có tiền bị cáo bán ma túy vừa có tiền bị cáo lao động mà có nhưng bị cáo không xác định được cụ thể số tiền bán ma túy và số tiền có được từ lao động. Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ chỉ có căn cứ xác định bị cáo bán ma túy 03 lần (ngày 16, 19/11/2023 và ngày 23/11/2023), mỗi lần bán ma túy thu được 100.000đồng. Như vậy, chỉ có căn cứ xác định, số tiền bị cáo đã bán ma túy mà có ở ba lần phạm tội là 300.000 đồng, số tiền còn lại 990.000 đồng không có căn cứ xác định liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do vậy, cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000đồng và trả lại cho bị cáo số tiền 990.000đồng. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh là tài sản của bị cáo nhưng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Quốc H (tên gọi khác: Lê Quốc T).

Tuyên bố bị cáo Lê Quốc H (tên gọi khác: Lê Quốc T) phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Quốc H (tên gọi khác: Lê Quốc T) 08 (T) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 23 tháng 11 năm 2023.

Phạt tiền bị cáo 5.000.000đồng để thu vào ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói của mẫu vật, 08 mảnh giấy màu trắng, kích thước trung bình (4,5x4,5)cm, 01 mảnh nilon màu đen, kích thước (10x60)cm và ½ dao lam; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng). Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 300.000đồng, trả lại bị cáo số tiền 990.000đồng (số tiền tịch thu và tiền trả lại tại Biên lai thu tiền số 0007036 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Quốc H (tên gọi khác Lê Quốc T) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để thu vào ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;

  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương;

  • - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng;

  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương;

  • - Trại Tạm giam Công an T.P Hải Phòng;

  • - Chi cục THADS huyện An Dương;

  • - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng

  • - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng;

  • - Sở Tư pháp Hải Phòng;

  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

T.M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 137/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quốc Hùng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger