Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 137/2024/HNGĐ-ST

Ngày 06-6-2024

V/v ly hôn

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Luyến

Ông Phạm Mạnh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân thân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 240/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐ-ST ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1986; nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt

- Bị đơn: Anh T, K-C, sinh năm 1972; nơi cư trú: Số nhà B, P, cụm A, thôn P, xã S, Y, Đài Loan; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai, nguyên đơn là chị Hoàng Thị T trình bày:

Chị Hoàng Thị T và anh T1, K-Cheng tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng vào ngày 05/01/2006. Sau khi kết hôn, anh T1, K-Cheng trở về Đài Loan và làm thủ tục bảo lãnh cho chị sang đoàn tụ. Quá trình chung sống tại Đài Loan, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp nên thường xảy ra cãi vã. Sau 03 tháng chung sống, chị T đã bỏ về Việt Nam và không có ý định trở lại Đài Loan. Từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay, chị Thu n thấy không còn tình cảm với anh T1, K-C, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1, K-C.

Về con chung: Anh chị không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với kết quả ủy thác cho bị đơn anh T1, K-Cheng:

Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành ủy thác tư pháp thông qua Bộ Tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo cung cấp lời khai yêu cầu anh T1, K-Cheng trả lời để cung cấp thông tin về yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T cho Tòa án để có căn cứ giải quyết vụ án. Ngày 12 tháng 12 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Hải phòng đã nhận được kết quả tống đạt của Bộ Tư pháp, theo đó thì Cơ quan có thẩm quyền của lãnh thổ Đài Loan đã thực hiện ủy thác tư pháp theo đề nghị của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng cho anh T1, K-Cheng vào ngày 19/10/2023 bằng phương thức gửi hồ sơ ủy thác tại đồn công an.

Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị T và anh T1, K-Cheng kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng vào ngày 05/01/2006 là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên xét thấy anh chị đã ly thân một thời gian dài, chị T đã không còn tình cảm vợ chồng với anh T1, K-Cheng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh T1, K-C. Về con chung: Chị Hoàng Thị T xác nhận chị và anh T1, K-Cheng không có con chung, không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết. Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết.

Tại phiên tòa chị Hoàng Thị T và anh T1, K1 – C đều vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Hoàng Thị T có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T1, K-C. Do đó, quan hệ tranh chấp trong vụ án là “ly hôn”. Bị đơn là anh T1, K-C hiện đang cư trú tại Đài Loan, nguyên đơn là chị Hoàng Thị T sinh sống tại Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Hoàng Thị T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh T1, K-C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 và điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Hoàng Thị T và anh T1, K-C.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T kết hôn với anh T1, K-Cheng và có đăng ký kết hôn tại tại Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng vào ngày 05/01/2006. Căn cứ Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị T trình bày: Quá trình chung sống tại Đài Loan, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp nên thường xảy ra cãi vã. Sau đó, chị T đã bỏ về Việt Nam và không trở lại Đài Loan. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và anh T1, K-C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng mỗi người một nơi và đã ly thân một thời gian dài, căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị T về việc xin ly hôn với anh T1, K-C.

[4] Về con chung: Chị T xác nhận chị và anh T1, K-Cheng không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm và chi phí uỷ thác tư pháp: Chị Hoàng Thị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và chi phí uỷ thác tư pháp.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị T và anh T1, K-Cheng được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 153, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm a khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh T1, K-C.

2. Về con chung: Chị Hoàng Thị T xác nhận chị và anh T1, K-Cheng không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị T không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm và chi phí uỷ thác tư pháp:

Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000090 ngày 01 tháng 8 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Hoàng Thị T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) chi phí ủy thác tư pháp nhưng được trừ vào số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000091 ngày 01 tháng 8 năm 2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Hoàng Thị T đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp.

5. Về quyền kháng cáo:

Chị Hoàng Thị T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Anh T1, K-C (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thúy Hà

5

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 137/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger