Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/5/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Sĩ Quang

Bà Đỗ Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 123/2024/TLST – HNGĐ ngày 19 tháng 03 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/4/2024 giữa:

  1. Nguyên đơn: Anh Chu Văn T, sinh ngày 31/7/1976.
  2. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Ô Mễ, xã Hưng Đạo, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

    Hiện ở: Đài Loan.

  3. Bị đơn : Chị Vương Thị H, sinh ngày 14/02/1981.
  4. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Ô, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    Hiện ở: Cộng hòa Séc.

  5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Vương Đình M, sinh năm 1954.
  6. Địa chỉ: Thôn Ô, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.

( Anh T1, chị H, ông M đều có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn anh Chu Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Vương Thị H tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 20/11/2010. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc. Năm 2012 anh T đi Đài Loan lao động, anh và chị H vẫn thường xuyên liên lạc, trao đổi thông tin điện thoại. Đến năm 2018 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do sống xa nhau, hai bên thiếu sự quan tâm dẫn đến vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Năm 2023 chị H đi Cộng hòa Séc lao động, cũng từ đó vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Ngày 19/02/2024 anh nghỉ phép về Việt Nam và có trao đổi nội dung ly hôn với chị H, quan điểm của chị H cũng đồng ý. Do chị H mới sang nước ngoài nên không về được Việt Nam để giải quyết ly hôn. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.

Về quan hệ con chung: Anh và chị H có 01 con chung là cháu Chu Minh H1, sinh ngày 11/9/2011, hiện nay cháu đang học tại Hà Nội. Ly hôn anh đồng ý để chị H nuôi con. Về cấp dưỡng tiền nuôi con anh và chị H tự thỏa thuận, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị H không có tài sản chung, không có nợ chung, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về án phí: Anh Tuấn tự nguyện chịu cả án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Chị Vương Thị H hiện đang lao động tại Cộng hòa Séc, do anh T không cung cấp được địa chỉ của chị H nên Tòa án đã tống đạt các văn bản của Tòa án cho chị H thông qua gia đình. Sau khi biết được anh T có đơn xin ly hôn, chị H đã gửi quan điểm trình bày đối với yêu cầu của anh T, cụ thể: Chị xác định tháng 9/2023 chị sang Cộng hòa séc lao động, anh T ở Đài Loan, vợ chồng sống xa nhau dẫn đến mâu thuẫn. Nay anh T có đơn ly hôn, chị đồng ý; Về con chung, vợ chồng có một con chung là cháu Chu Minh H1, sinh ngày 11/9/2011. Ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con và ủy quyền cho ông Vương Đình M và bà Nguyễn Thị X chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H1. Về cấp dưỡng tiền nuôi con các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vương Đình M trình bày: Ông là bố đẻ của chị H, sau khi biết anh T có đơn ly hôn, chị H đã có quan điểm gửi về cho Tòa án. Ông đồng ý nhận ủy quyền của chị H về việc nuôi dưỡng cháu H1, đồng thời ông đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Cháu Chu Minh H1 là con đẻ của anh T, chị H có quan điểm khi bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ và ông bà ngoại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn giữa anh T và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh T được ly hôn chị H. Về con chung: Giao cháu Chu Minh H1, sinh ngày 11/9/2011 cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng tiền nuôi con các bên tự thỏa thuận. Trong thời gian chị H không ở Việt Nam, tạm giao cháu H1 cho ông Vương Đình M chăm sóc. Về án phí: Anh Tuấn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Chu Văn T và chị Vương Thị H đều có hộ khẩu thường trú tại: Thôn Ô, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Hiện nay anh T và chị H đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đơn trình bày của chị Vương Thị H gửi về Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương chưa được xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định dấu vân tay trong văn bản này. Tại kết luận giám định số 1113/KL-KTHS ngày 11/4/2024 của Phòng K – Công an thành phố H đã kết luận: Dấu vân tay ký hiệu A1, A2 in trên tài liệu gửi giám định với dấu vân tay in tương ứng tại ô ngón trỏ trái và trỏ phải trên 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Vương Thị H (mẫu so sánh) là của cùng một người. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung đơn trình bày chị H gửi về đúng là ý chí, nguyện vọng của chị H.

Chị H ủy quyền cho ông Vương Đình M chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Chu Minh H1 nên Tòa án xác định ông M là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh T, chị H, ông M có quan điểm đề nghị giải quyết vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Chu Văn T và chị Vương Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 20/11/2010, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng sống xa nhau, hai bên không tìm được tiếng nói chung. Nay anh T, chị H đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh T có đơn xin ly hôn, chị H cũng đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn giữa anh T và chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T.

- Về quan hệ con chung: Anh Chu Văn T và chị Vương Thị H có một con chung là cháu Chu Minh H1, sinh ngày 11/9/2011. Ly hôn anh T, chị H đều thỏa thuận chị H sẽ tiếp tục nuôi cháu H1. Xét thấy, thực tế anh T, chị H đều đang ở nước ngoài, cháu H1 hiện được ông bà ngoại chăm sóc và phát triển tốt. Cháu H1 cũng có nguyện vọng được ở với mẹ và ôngbà ngoại. Do vậy có căn cứ chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao cháu H1 cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng tiền nuôi con do các bên tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trong thời gian chị H không ở Việt Nam, tạm giao cháu H1 cho ông Vương Đình M chăm sóc.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4].Về án phí: Anh Chu Văn T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Chu Văn T được ly hôn chị Vương Thị H.
  2. Về con chung: Giao con chung Chu Minh H1, sinh ngày 11/9/2011 cho chị Vương Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con tròn 18 tuổi.
  3. Về cấp dưỡng tiền nuôi con do các bên tự thỏa thuận.

    Trong thời gian chị H không ở Việt Nam, tạm giao cháu H1 cho ông Vương Đình M chăm sóc.

    Anh Chu Văn T được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

  4. Về án phí: Anh Chu Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) anh T đã nộp theo biên lai thu số 0000522 ngày 19 tháng 3 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh T1 đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Chu Văn T, chị Vương Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  6. Ông Vương Đình M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - UBND Xã Hưng Đạo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 137/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger