Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH

PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05/8/2024

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Ngọc Đào

Ông Nguyễn Tất Ái

-Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 100/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXX-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 110/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Thạch Thu P, sinh năm: 1988. Địa chỉ: ấp T, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Có mặt
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Trần Hoàng P1, sinh năm: 1985. Địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Chỗ ở: 24/15 Ấp C, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 05/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thạch Thu P trình bày:

Chị và anh Nguyễn Trần Hoàng P1 có quen biết và tìm hiểu nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang vào ngày 23/5/2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên thường hay cãi nhau, từ đó không còn tiếng nói chung khiến cho hôn nhân ngày càng mâu thuẫn, không còn hạnh phúc, anh P1 còn đánh chị. Hai vợ chồng đã hòa giải để hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không được, anh P1 vẫn không thay đổi nên chị đã đem 01 đứa con đi (bé lớn không chịu đi) và thuê trọ ở nơi khác sinh sống. Chị đã ra đi nhiều lần, anh P1 năn nỉ hứa thay đổi nên chị trở về nhưng thật sự vẫn không thay đổi nên chị lại đi (đã đi 4-5 lần), lần sau cùng chị đi cách nay khoảng hơn 03 tháng, anh P1 thấy chị đã quyết tâm nên không có năn nỉ gì, chị thuê trọ ở gần và cũng thường lui tới đưa đón các con đi học. Từ ngày sống ly thân, chị nhận thấy giữa chị và anh P1 không còn tình cảm với nhau, đã có nhiều mâu thuẫn, chị không thể chịu đựng khi sống chung với anh P1 nên chị yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Cát T, sinh ngày 21/3/2017 và Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 19/8/2019. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng bé An N, giao anh P1 tiếp tục nuôi dưỡng bé Cát T, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết

Anh Nguyễn Trần Hoàng P1 đã được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như các văn bản tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án nhưng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị P và cũng không đến Tòa án tham dự phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa, chị P vẫn giữ yêu cầu khởi kiện như đã trình bày. Anh P1 vắng mặt không có lý do.

*Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đối với đương sự: nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn thực hiện chưa đúng pháp luật tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: đề nghị căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: cho chị P được ly hôn với anh P1; về con chung, giao cho chị P tiếp tục nuôi dưỡng cháu An N, giao anh P1 nuôi con chung là cháu Cát T, không ai phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Anh Nguyễn Trần Hoàng P1 được triệu tập dự phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P1.
  2. Về quan hệ hôn nhân: chị Thạch Thu P và anh Nguyễn Trần Hoàng P1 kết hôn vào năm 2016, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/5/2016 tại UBND xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43, như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Theo chị P thì vợ chồng chung sống hạnh phúc, cách nay 02 năm vì hoàn cảnh phải thuê nhà trọ sinh sống, từ đó phát sinh mâu thuẫn và bất đồng quan điểm về nhiều mặt, thường cãi nhau, anh P1 còn đánh chị, vì vậy đã sống ly thân từ tháng 02/2024 đến nay vẫn không thể hàn gắn được. Hiện nay tình cảm vợ chồng đã hết, hôn nhân không thể hàn gắn cũng như không thể kéo dài, sống chung cũng không còn hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh P1.

Xét thấy, chị P xin ly hôn nhưng anh P1 không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị P dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Tại phiên tòa hôm nay anh P1 không đến Tòa án và vắng mặt không lý do, điều này thể hiện anh P1 không có ý chí mong muốn vợ chồng hàn gắn, không quan tâm đến tình cảm vợ chồng mà để mặc cho chị P quyết định.

Xét, về tình nghĩa vợ chồng thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và sống chung với nhau nhưng hiện giữa anh P1 và chị P không còn tình nghĩa vợ chồng, hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó nay chị P xin ly hôn với anh P1 là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

  1. Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Cát T, sinh ngày 21/3/2017 và Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 19/8/2019.

Theo chị P, hiện chị đang trực tiếp nuôi dưỡng bé An N; còn bé Cát T đang do anh P1 nuôi dưỡng, bé có nguyện vọng theo cha nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng bé An N, giao anh P1 tiếp tục nuôi dưỡng bé Cát T, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét ý kiến của chị P thấy rằng cháu An N còn nhỏ và đang do chị P nuôi dưỡng, cháu Cát T đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được sống với cha. Anh P1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu giao anh nuôi cháu Cát T. Do đó để ổn định về mặt tâm sinh lý, nguyện vọng của con, nơi sinh sống của con, Hội đồng xét xử nghĩ cần giao cho chị P tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng bé An N, giao bé Cát T cho anh P1 được chăm sóc, nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản và nợ chung: Chị P không yêu cầu giải quyết, anh P1 vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về án phí: chị P phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  3. Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp quan điểm Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Thạch Thu P được ly hôn với anh Nguyễn Trần Hoàng P1
  2. Về con chung: Giao chị Thạch Thu P tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 19/8/2019; giao anh Nguyễn Trần Hoàng P1 tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Cát T, sinh ngày 21/3/2017. Chị P, anh P1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Chị P, anh P1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

  3. Về án phí: Chị Thạch Thu P chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 005781 ngày 05/3/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xem như đã nộp xong án phí.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị P có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh P1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • -VKSND TP Mỹ Tho;
  • -Chi cục THADS Tp Mỹ Tho;
  • -TAND tỉnh TG;
  • -Các đương sự;
  • -UBND xã Phước Thạnh (nơi ĐKKH);
  • -Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Bảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HNGĐ-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 137/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thạch T P và Nguyễn Trần H P ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger