Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 137/2025/HS-ST

Ngày 25 - 6 - 2025

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy

Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Viết Ty

Bà Phạm Thị Sơn

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 126/2025/TLST-HS ngày 28/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2025/QĐXXST-HS ngày 09/6/2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Doãn H; Sinh năm 1989 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Doãn L và bà Nguyễn Thị H1; Có vợ là Huỳnh Thị Thu V và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/11/2004 bị Tòa án nhân dân TP Hà Nội xử phạt 6 năm tù, về tội: “Cướp tài sản” và “Cố ý gây thương tích”; Ngày 29/10/2010 bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 4 năm tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Ngày 07/7/2016 bị Tòa án nhân huyện Y xử phạt 18 tháng tù, về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; tạm giữ: ngày 20/3/2025; Tạm giam: ngày 29/3/2025; Thay thế biện pháp ngăn chặn thành Bảo lĩnh ngày 22/4/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2. Lê Quang S; Sinh năm 1987 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn F, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quang T và bà Lê Thị L1; Có vợ là Nguyễn Thị H2 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: ngày 20/3/2025; Tạm giam: ngày 29/3/2025; Thay thế biện pháp ngăn chặn thành Bảo lĩnh ngày 22/4/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

3. Lê Quang V1; Sinh năm 1972 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quang K (đã chết) và bà Lê Thị T1; Có vợ là Khương Thị D (đã ly hôn) và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/02/2015, Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa xử phạt tiền 12.000.000 đồng, về

2

tội “Đánh bạc”; Ngày 30/6/2016, Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa xử phạt 3 tháng tù về tội “Đánh bạc”; Tạm giữ: ngày 20/3/2025; tạm giam: ngày 29/3/2025; Thay thế biện pháp ngăn chặn thành Bảo lĩnh ngày 22/4/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

4. Đỗ Khắc G; Sinh năm 1986 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Khắc Đ (đã chết) và bà Lê Thị H3; Có vợ là Hoàng Thị H4 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: ngày 20/3/2025; Tạm giam: ngày 29/3/2025; Thay thế biện pháp ngăn chặn thành Bảo lĩnh ngày 22/4/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

5. Hàn Văn K1; Sinh năm 1985 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hàn Duyên T2 và bà Trần Thị D1; Có vợ là Nguyễn Thị N và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

6. Lê Quang T3; Sinh năm 1970 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quang D2 (đã chết) và bà Lê Thị C (đã chết); Có vợ là Lê Thị G1 và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: ngày 20/3/2025; Tạm giam: ngày 29/3/2025; Thay thế biện pháp ngăn chặn thành Bảo lĩnh ngày 22/4/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

7. Lê Văn M; Sinh năm 1976 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quang H5 (đã chết) và bà Trần Thị L2 (đã chết); Có vợ là Lê Thị T4 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/5/2016, Công an huyện T phạt hành chính về hành vi Đánh bạc; Ngày 18/8/2021, Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa xử phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội Đánh bạc; tạm giữ: ngày 20/3/2025; Tạm giam: ngày 29/3/2025; Thay thế biện pháp ngăn chặn thành Bảo lĩnh ngày 22/4/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

8. Vũ Đình L3; Sinh năm 1990 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKNKTT: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đình N1 và bà Lê Thị N2; Có vợ là Lê Thị Thu H6 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: ngày 20/3/2025; Tạm giam: ngày 29/3/2025; Thay thế biện pháp ngăn chặn thành Bảo lĩnh ngày 22/4/2025. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

9. Phạm Văn H7; Sinh năm 1987 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo:

3

Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Viết N3 và bà Phan Thị H8; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Hành vi đánh bạc dưới hình thức bài liêng được thua bằng tiền:

Khoảng 19h00' ngày 19/03/2025, Lê Quang V1 rủ Lê Quang S đến nhà Vũ Đình L3, ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để đánh bạc thì S đồng ý. Cả hai hẹn gặp nhau tại nhà L3. Sau đó, S đến nhà L3 ngồi uống nước với L3 đợi người đánh bạc đến. Ngồi một lúc thì L3 chuẩn bị chiếu, bài, thuốc, nước cho người đánh bạc. Sau đó, V1 tiếp tục rủ Lê Quang T3 đến nhà L3 để đánh bạc. T3 đồng ý và đi cùng V1 từ nhà Văn đến nhà L3 để tham gia đánh bạc. Đến nơi, thấy S đã có mặt ở đó nên V1 và T3 đến ngồi cùng đợi thêm người chơi bạc đến. Trong lúc ngồi đợi, V1 điện thoại rủ Lê Văn M đến nhà L3 để đánh bạc thì M đồng ý. Một lúc sau thì Hàn Văn K1 và Lê Văn M lần lượt đến. L3 gọi điện thoại rủ Đỗ Khắc G đến nhà L3 đánh bạc thì G đồng ý. G gọi điện thoại rủ Nguyễn Doãn H đến nhà L3 đánh bạc thì H đồng ý. Sau đó, H chở G đến nhà L3 bằng xe máy mượn của Nguyễn Đăng L4 (ở thôn C, xã T, Huyện T, Thanh Hóa) đến nhà L3 để đánh bạc.

Đến khoảng 21h00' cùng ngày bắt đầu đánh bằng hình thức đánh bài liêng được thua bằng tiền. Cả nhóm thống nhất tiền “cốp” mỗi ván bạc mà mỗi người chơi phải bỏ ra là 100.000 đồng, tiền “tố” mỗi ván bạc từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng, mỗi lần “chào” sẽ cắt ra 100.000 đồng cho L3 tiền công thuốc, nước.

Khi đi đánh bạc, T3, M, H, G, K1 khai lần lượt mang theo số tiền mặt là 2.000.000 đồng, 1.800.000 đồng, 10.000.000 đồng, 4.100.000 đồng và 2.500.000 đồng sử dụng cho việc đánh bạc. Do không mang theo tiền mặt nên S đã chuyển 5.000.000 đồng từ khoản ngân hàng T5 số 19038628457016 tên “LE QUANG SON” của mình đến tài khoản ngân hàng M1 số 9399998999 tên “VU DINH LAM” của Lâm đổi lấy 5.000.000 đồng tiền mặt để tham gia đánh bạc. Ban đầu, có G, M, S, T3, H và K1 đánh bạc, còn Văn ngồi ngoài xem vì không mang theo tiền. Khoảng 01 giờ sau, K1 thua bạc hết tiền nên ra về trước. Văn lúc này vay 5.000.000 đồng của S và ngồi xuống thay chỗ K1 tham gia đánh bạc.

Phương thức đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền cụ thể như sau:

Bài liêng là trò chơi sử dụng bộ bài Tây 52 lá. Trước khi chia bài, mỗi người chơi bắt buộc phải bỏ ra một khoản tiền “cốp” bằng nhau là 100.000 đồng, gọi là tiền gà. Sau khi đặt tiền “cốp” xong, mỗi người chơi sẽ được chia 3 lá bài. Khi đã xem bài xong, người chơi sẽ bắt đầu đặt cược với thứ tự ngược chiều kim đồng hồ bắt đầu từ người chia bài. Trong quá trình đặt cược thì người chơi có thể dựa vào độ lớn bé của bài để đưa ra những lựa chọn sau:

- T: Là việc người chơi bỏ ra số tiền cược lớn hơn số tiền mà người trước đó đã tố. Số tiền tố thêm giới hạn từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

4

- Úp bỏ: Nếu như thấy bài của mình có khả năng chiến thắng thấp thì người chơi có thể lựa chọn việc bỏ bài trên tay của mình và không tiếp tục tham gia ván bài đó nữa để tránh mất thêm tiền.

- Theo: Là việc người chơi bỏ thêm một số tiền bằng với số tiền mà người trước đó đã tố để có thể tiếp tục ván bài.

Sau khi quá trình đặt cược kết thúc thì sẽ tiến hành so bài với nhau. Người có bài lớn nhất sẽ là người thắng cược và sẽ nhận được toàn bộ tiền cược trên bàn.

Theo quy định: Lá số từ 2 đến 9 có giá trị tương ứng với số trên lá; lá 10 và các lá hình J, Q, K thì tính là 0 điểm; lá A được tính là 1 điểm.

Thứ tự xét các quân bài từ cao đến thấp sẽ là: Sáp > Liêng > Ảnh > 9>8> 7>6>5>4>3>2>1>0.

- Sáp: Gồm 1 bộ 3 lá bài có giá trị như nhau. Bộ sáp nhỏ nhất là 222 và bộ sáp lớn nhất là AAA.

- Liêng: 3 lá bài có giá trị liên tiếp. Tập Liêng có giá trị nhỏ nhất là A23 và tập Liêng có giá trị lớn nhất là QKA.

- Ảnh: Bộ gồm 3 sản phẩm được ghép ngẫu nhiên vào nhau. Tập nhỏ nhất là JJA và tập có giá trị cao nhất là KKQ.

Trường hợp khi quân bài của các người chơi bằng nhau (gọi là “chào”) thì lúc này sẽ tiếp tục chia bài cho những người này đến khi xác định kết quả thắng thua. Mỗi lần “chào” như thế này thì sẽ cắt cho L3 (chủ nhà) số tiền 100.000 đồng.

Đến khoảng 0h30' khi cả nhóm đang đánh bạc thì bị Tổ công tác Phòng C2 Công an tỉnh T tuần tra, phát hiện, bắt quả tang.

Tang vật thu giữ gồm: 42.800.000 đồng tiền mặt, 01 bộ bài Tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu nhựa; Nguyễn Doãn H giao nộp: 01 điện thoại di động S1 3 5G lắp sim số 0939.420.222; Lê Văn M giao nộp: 01 điện thoại di động OPPO gắn thẻ sim số điện thoại 0869.965.xxx; Phạm Văn H7 giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, gắn thẻ sim có ghi dãy số 8984048000904932441.

2. Hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề giữa Nguyễn Doãn H và Phạm Văn H7:

Ngoài việc thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh liêng được thua bằng tiền cùng đồng bọn bị bắt quả tang nêu trên, Nguyễn Doãn H còn thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề thông qua nhắn tin trên ứng dụng Zalo với Phạm Văn H7 (toàn bộ dữ liệu tin nhắn mua bán số lô, số đề được lưu trữ trong điện thoại di động do Nguyễn Doãn H giao nộp). Quá trình mua, bán số lô, số đề, Nguyễn Doãn H và Phạm Văn H7 thống nhất với nhau căn cứ để xác định số lô, số đề mà khách mua là trúng hay trượt dựa vào Kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng vào 18h15' hàng ngày để so sánh, cụ thể: đối với số đề thì so sánh số đề khách mua với hai số cuối bên phải của giải đặc biệt, nếu trùng nhau thì được coi là trúng đề; đối với số lô thì so sánh số lô khách mua với hai số cuối bên phải của tất cả các giải, nếu trùng nhau thì được coi là trúng lô và đối với số lô xiên hai thì so sánh cặp số lô xiên khách mua với hai số cuối bên phải của tất

5

cả các giải, nếu cả hai số trong cặp số lô xiên đều trùng thì được coi là trúng lô xiên. Về phương thức tính tỷ lệ mua bán số lô, số đề và tỷ lệ trúng lô, số đề với khách như sau:

- Đối với số đề thì mỗi điểm có giá 1.000đồng. Khi trúng sẽ nhận được 1000 đồng x 70 = 70.000đồng, cứ như vậy nhân theo hệ số điểm.

Số tiền trúng đề = Số điểm đề x 1.000đ x 70.

- Đối với số ba càng thì mỗi điểm có giá là 1.000đồng. Khi trúng sẽ nhận được: 1000đồng x 400 = 400.000đồng, cứ như vậy nhân theo hệ số điểm.

Số tiền trúng số ba càng = Số điểm ba càng x 1.000đồng x 400.

Trường hợp khách mua số ba càng tương ứng với số tiền thì “Số tiền trúng số ba càng = Số tiền mua số ba càng x 400”.

- Đối với số lô thì mỗi điểm có giá là 22.500đồng hoặc 23.000đồng, tùy thuộc vào mỗi khách mua. Khi trúng sẽ nhận được: 80.000đồng, cứ như vậy nhân theo hệ số điểm. Trường hợp số lô xuất hiện nhiều lần ở các giải thì số tiền trúng lô được xác định bằng cách nhân theo hệ số lần lặp lại của số lô.

Số tiền trúng lô = Số điểm lô x 80.000đ x số lượt lặp lại của số lô.

Ngày 23/02/2025, Nguyễn Doãn H nhắn tin qua Z từ tài khoản “Hai Lồ” (đăng ký bằng thẻ sim số 0939.420.222, gắn trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG loại GALAXY Z Flip 3 5G, số IMEI 355001766524887) đến tài khoản tên “Phạm Hiếu” (đăng ký bằng thẻ sim số 0977.323.610, gắn trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, số IMEI1: 353889105449952, số IMEI2: 353889105255513, bên trong gắn thẻ sim có ghi dãy số 8984048000904932441) của Phạm Văn H7 hỏi mua “Lô 91x100đ” (tức số lô 91 mua 100 điểm, mỗi điểm lô giá 22.500đồng, tổng cộng 100 điểm lô giá 2.250.000 đồng) và “848x100đ” (tức mua số lô ba càng 848 với số tiền 100.000đồng) thì H7 đồng ý bán và thả tim xác nhận. Tối cùng ngày, so sánh với Kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 23/02/2025 thì H trúng 100 điểm số lô 91 với số lượt về là 03 vòng được 24.000.000 đồng. Hai và H7 đã thanh toán tiền thắng thua lô đề với nhau.

Như vậy, Số tiền đánh bạc giữa Phạm Văn H7 và Nguyễn Doãn H vào ngày 23/02/2025 là 100 x 22.500 đồng + 100 x 3 x 80.000 đồng + 100.000 đồng = 26.350.000 đồng.

* Trong vụ án này, còn có:

Ngày 26/9/2024, Lê Văn M đánh bạc với Vũ Khắc C1, sinh năm 1986, trú tại: thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa dưới hình thức mua, bán số lô, số đề, với số tiền đánh bạc là 1.150.000 đồng. Hiện Vũ Khắc C1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc và cũng chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc; Lê Văn M mặc dù đã bị xét xử về tội Đánh bạc và bị xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc nhưng đều đã được xoá án tích. Do đó, không đủ căn cứ xử lý hình sự đối với Lê Văn M và Vũ Khắc C1 về hành vi này. Ngày 09/5/2025, Phòng C2 Công an tỉnh T đã Quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Văn M và Vũ Khắc C1 theo quy định.

6

* Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKS-P2 ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: đã truy tố Nguyễn Doãn H, Lê Quang S, Lê Quang V1, Đỗ Khắc G, Hàn Văn K1, Lê Quang T3, Lê Văn M, Vũ Đình L3, Phạm Văn H7 về tội: “Đánh bạc”; quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS. Xử phạt Nguyễn Doãn H từ 24 tháng đến 30 tháng tù; Phạt bổ sung bị cáo H từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
  2. Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS. Xử phạt Lê Quang V1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù;
  3. Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS. Xử phạt Lê Văn M từ 06 tháng đến 09 tháng tù;
  4. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS. Xử phạt Lê Quang S từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng;

Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS (Áp dụng cho các bị cáo Đỗ Khắc G, Lê Quang T3 và Phạm Văn H7).

  1. Xử phạt Đỗ Khắc G từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng;
  2. Xử phạt Lê Quang T3 từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng;
  3. Xử phạt Phạm Văn H7 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng;

Phạt bổ sung các bị cáo Lê Quang V1, Lê Văn M, Đỗ Khắc G, Lê Quang T3, Phạm Văn H7; mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

  1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 BLHS. Xử phạt Hàn Văn K1 từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng;
  2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 BLHS. Xử phạt Vũ Đình L3 từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 03 điện thoại di động. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 42.800.000 đồng. Truy thu số tiền đánh bạc đối với bị cáo H số tiền 24.000.000 đồng; bị cáo H7 số tiền 2.350.000 đồng. Tịch thu để tiêu huỷ 01 bộ bài T lơ khơ 52 quân, 01 chiếu nhựa.

Án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

7

- Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện VKS. Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu được cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Thấy đủ cơ sở chứng minh: Hành vi của Lê Quang V1, Lê Quang T3, Lê Văn M, Lê Quang S, Hàn Văn K1, Đỗ Khắc G, Nguyễn Doãn H: tham gia đánh bạc dưới hình thức bài liêng được thua bằng tiền bị bắt quả tang hồi 0h30' ngày 20/3/2025 tại nhà Vũ Đình L3 ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, với số tiền dùng đánh bạc là 42.800.000đ.

Hành vi của Vũ Đình L3: cho mượn địa điểm, chuẩn bị công cụ, phương tiện giúp sức cho 06 đối tượng trên thực hiện hành vi đánh bạc để thu tiền hồ 100.000đồng/1 ván “chào”, là đồng phạm giúp sức cho các đối tượng Đánh bạc, quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

- Hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề:

Hành vi của Nguyễn Doãn H và Phạm Văn H7: đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề ngày 23/02/2025, với số tiền đánh bạc là 26.350.000 đồng.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Lê Quang V1, Lê Quang T3, Lê Văn M, Lê Quang S, Đỗ Khắc G, Nguyễn Doãn H, Hàn Văn K1, Vũ Đình L3 và Phạm Văn H7 có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo như trên là đúng pháp luật.

[3]. Tính chất vụ án: Cờ bạc, lô đề là tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như trộm cắp, gây thương tích hoặc dẫn đến nhiều gia đình tan vỡ hạnh phúc, kiệt quệ về kinh tế. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an chung, cần phải xử lý nghiêm minh.

[4]. Vai trò và trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Các bị cáo trực tiếp thực hiện tội phạm nhưng không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.

Tình tiết tăng nặng TNHS đối với bị cáo Nguyễn Doãn H là phạm tội 2 lần trở lên; căn cứ điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

8

Nhân thân các bị cáo Nguyễn Doãn H, Lê Quang V1 và Lê Văn M đã bị kết án, mặc dù nay đã được xoá án tích nhưng điều này chứng tỏ các bị cáo chưa chịu cải sửa.

Với nhân thân và hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Doãn H, Lê Quang V1 và Lê Văn M thì việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ TNHS chung cho cả 09 bị cáo là thành khẩn khai báo; căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ TNHS chung cho 06 bị cáo Lê Quang T3, Lê Quang S, Đỗ Khắc G, Hàn Văn K1, Vũ Đình L3 và Phạm Văn H7 là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; căn cứ điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ TNHS riêng cho bị cáo Lê Văn M có bố đẻ là ông Lê Quang H5 là liệt sỹ; căn cứ điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ TNHS cho các bị cáo L3, H7, T3, S, G theo khoản 2 Điều 51 BLHS là bị cáo H7 có bố đẻ là ông Phạm Văn N4 được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3, bị cáo H7 ủng hộ cho Đoàn xã T, huyện T tổ chức giải bóng đá thiếu niên và tổ chức trại hè năm 2024 số tiền 2.000.000 đồng; bố đẻ bị cáo L3 là thương binh; mẹ bị cáo T3 tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, bố bị cáo T3 tham gia thanh niên xung phong; bố bị cáo S là người tàn tật nặng; bị cáo G ủng hộ cho Đ1 xã T, huyện T trao quà cho học sinh nghèo số tiền 3.000.000 đồng, ủng hộ trại hè số tiền 2.000.000 đồng.

Với nhân thân, hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ TNHS trên thì việc cách ly các bị cáo Lê Quang T3, Lê Quang S, Đỗ Khắc G và Phạm Văn H7 ra khỏi xã hội là chưa cần thiết mà để cải tạo các bị cáo tại địa phương để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật sớm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội; căn cứ Khoản 1, 2 Điều 65 BLHS.

Bị cáo Vũ Đình L3 với vai trò giúp sức, không trực tiếp tham gia đánh bạc; bị cáo Hàn Văn K1 tham gia đánh bạc thời gian ngắn rồi về trước. Nhân thân các bị cáo đều chưa có tiền án nên phạt tiền đối với các bị cáo là phù hợp; căn cứ Điều 35 BLHS.

[5]. Phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Doãn H thực hiện 2 hành vi đánh bạc nên phạt tiền bị cáo 15.000.000 đồng. Phạt tiền các bị cáo Lê Quang V1, Lê Văn M, Lê Quang T3, Đỗ Khắc G và Phạm Văn H7; mỗi bị cáo 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Bị cáo Lê Quang S có bố đẻ bị tàn tật nặng, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không phạt tiền đối với bị cáo S.

[6]. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS. Khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS để xử lý các vật chứng sau:

Đối với số tiền 42.800.000 đồng là tiền dựng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có nên tịch thu để sung quỹ Nhà nước.

Truy thu để tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền do các bị cáo dùng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có gồm: Bị cáo Nguyễn Doãn H 24.000.000 đồng; bị cáo Phạm Văn H7 2.350.000 đồng.

9

Đối với 01 điện thoại S1 3 5G lắp sim số 0939.420.222 thu của bị cáo H, 01 điện thoại di động OPPO gắn thẻ sim số điện thoại 0869.965.xxx thu của bị cáo M; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, gắn thẻ sim có ghi dãy số 8984048000904932441 thu của bị cáo H7 là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Một bộ bài T lơ khơ 52 quân, 01 chiếu nhựa không còn giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu huỷ.

[7]. Án phí: Các bị cáo Lê Quang V1, Lê Quang T3, Lê Văn M, Lê Quang S, Đỗ Khắc G, Nguyễn Doãn H, Hàn Văn K1, Vũ Đình L3 và Phạm Văn H7; mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST; bị cáo Lê Văn M là thân nhân liệt sỹ nên không phải nộp án phí HSST; Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Doãn H, Lê Quang V1, Lê Quang T3, Lê Văn M, Lê Quang S, Đỗ Khắc G, Hàn Văn K1, Vũ Đình L3 và Phạm Văn H7 phạm tội “Đánh bạc”.

  • Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS.
  • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Doãn H 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 20/3/2025 đến ngày 22/4/2025.

  • Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS.
  • Xử phạt: Bị cáo Lê Quang V1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 20/3/2025 đến ngày 22/4/2025.

  • Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS.
  • Xử phạt: Bị cáo Lê Văn M 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam trước từ ngày 20/3/2025 đến ngày 22/4/2025.

  • Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS.
  • Xử phạt: Bị cáo Lê Quang S 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  • Căn cứ vào: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS (Áp dụng cho các bị cáo Đỗ Khắc G, Lê Quang T3, Phạm Văn H7).

10

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Khắc G 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt Bị cáo Lê Quang T3 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H7 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  • Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 BLHS.
  • Xử phạt: Bị cáo Hàn Văn K1 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước. Thi hành một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

  • Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 BLHS.
  • Xử phạt Bị cáo Vũ Đình L3 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước. Thi hành một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Doãn H 15.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước. Các bị cáo Lê Quang V1, Lê Quang T3, Lê Văn M, Đỗ Khắc G và Phạm Văn H7; mỗi bị cáo 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Giao các bị cáo Lê Quang S, Lê Quang T3 cho Ủy ban nhân dân và Công an xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để giáo dục, giám sát trong thời gian thử thách.

Giao các bị cáo Đỗ Khắc G, Phạm Văn H7 cho Ủy ban nhân dân và Công an xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa để giáo dục, giám sát trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Áp dụng: Điều 47 BLHS. Khoản 1, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 của BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí, lệ phí Tòa án.

2. Về vật chứng: Tịch thu để sung quỹ Nhà nước gồm 01 điện thoại S1 3 5G lắp sim số 0939.420.222 thu của bị cáo H, 01 điện thoại di động OPPO gắn thẻ sim số điện thoại 0869.965.xxx thu của bị cáo M; 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, gắn thẻ sim có ghi dãy số 8984048000904932441 thu của bị cáo H7.

Tịch thu để tiêu huỷ gồm: Một bộ bài T lơ khơ 52 quân và 01 chiếu nhựa.

(Vật chứng trên đang tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo Biên bản giao nhận vật chứng số 136/2025/TV-CTHADS ngày 04/6/2025).

11

Tịch thu để sung quỹ Nhà nước số tiền 42.800.000 đồng (Bốn mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng). Số tiền trên đang tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo uỷ nhiệm chi ngày 03/6/2025.

Truy thu của bị cáo Nguyễn Doãn H 24.000.000 đồng (Hai mươi tư triệu đồng); bị cáo Phạm Văn H7 2.350.000 đồng (Hai triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

3. Án phí: Các bị cáo Lê Quang V1, Lê Quang T3, Lê Quang S, Đỗ Khắc G, Nguyễn Doãn H, Hàn Văn K1, Vũ Đình L3 và Phạm Văn H7, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Lê Văn M không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

Người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P2);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở tư pháp Thanh Hoá;
  • - UBND và Công an xã Thiệu Giang;
  • - UBND và Công an xã Thiệu Quang;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HSVA; Lưu Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về đánh bạc

  • Số bản án: 137/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo đánh bạc vi phạm điều 321 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger