|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 23/6/2025.
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu và bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Linh Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 94/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị X, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện P, thành phố H; có mặt.
- Bị đơn: Anh Trương C, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện P, thành phố H; vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 20 tháng 4 năm 2025 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là chị Đỗ Thị X trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị X và anh Trương C có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, thành phố H vào ngày 10/6/2009. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian, sau đó xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, giữa vợ chồng thường xuyên cải vã, xích mích. Nguyên đơn có khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh C không nghe nên đã sống ly thân từ lâu. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện hòa giải nhưng không khắc phục được. Nay nhận thấy mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Trương Cu .
Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn trình bày quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Trương Thị Khánh L, sinh ngày 07/01/2010 và Trương Hoàng N, sinh ngày 21/5/2011. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết giao 02 con chung cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, nguyên đơn không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện đã nộp các tài liệu, chứng cứ gồm:
Bản chính giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao giấy khai sinh; Bản sao căn cước công dân.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập và Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cho anh C về việc chị X xin ly hôn và tranh chấp nuôi con. Tuy nhiên, hết thời hạn luật định anh C không có văn bản trình bày ý kiến. Tòa án cũng đã nhiều lần thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh C đều vắng mặt.
Tại biên bản xác minh ngày 23/5/2025, gia đình anh Trương C cho biết, anh C có nơi cư trú tại thôn K, xã P, huyện P, thành phố H. Mâu thuẫn giữa chị X và anh C là do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường hay xảy ra cãi vã và xích mích. Gia đình đã nhận các văn bản tố tụng và giao lại cho anh C nhưng anh C vẫn không đến Tòa án làm việc.
Do không tiến hành hòa giải được và nguyên đơn có đơn đề nghị không tiếp tục hòa giải và đưa vụ án ra xét xử nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày 16/6/2025, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử ban hành quyết định hoãn phiên tòa và tống đạt hợp lệ cho bị đơn. Tuy nhiên, tại phiên tòa lần thứ hai anh C tiếp tục vắng mặt.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Bị đơn không tham gia các Phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về tố tụng: Theo Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự thì việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nêu trên là hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị X và anh Trương C có đăng ký kết hôn tại xã P, huyện P, thành phố H vào ngày 10/6/2009. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và anh Trương C là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét về quá trình hôn nhân giữa nguyên đơn và anh C, Hội đồng xét xử thấy rằng, trong quá trình sống chung, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc cho nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không được nên giữa hai người đã có thời gian dài sống ly thân. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cũng không hòa giải được do bị đơn vắng mặt. Điều đó chứng tỏ hôn nhân của vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Nhã T.
[2.2] Về việc nuôi con chung: Yêu cầu của nguyên đơn xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 người con chung là cháu Trương Thị Khánh L, sinh ngày 07/01/2010 và Trương Hoàng N, sinh ngày 21/5/2011. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này là chính đáng, phù hợp với thực tế và nguyện vọng của cháu L và cháu N. Vì hiện nay cháu L và cháu N đang do chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của nguyên đơn.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử đã giải thích cho chị X rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Chị X trình bày chị có công việc ổn định, có đủ điều kiện để nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đỗ Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị X.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị X được ly hôn anh Trương Cu .
- Về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao 02 người con chung là Trương Thị Khánh L, sinh ngày 07/01/2010 và Trương Hoàng N, sinh ngày 21/5/2011 cho chị Đỗ Thị X được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Trương C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Trương C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Chị Đỗ Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị X đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002641 ngày 24/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P. Chị X đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Sang |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 137/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 137/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con
