Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 137/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18-6-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Khoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Trọng Tuấn

Bà Nguyễn Thị Luyến

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nguyệt Minh - Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 96/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1980; nơi ĐKTT: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bỉnh Dương; nơi cư trú: A D, M, WA F, Australia; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Ngô Quý H1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số A Miếu H, phường D (nay là phường T), quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn xin ly hôn đề ngày 12/3/2025, các lời khai gửi đến Tòa án và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Bùi Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Ngô Quý H1 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D (nay là phường T), quận L, thành phố Hải Phòng vào ngày 03/10/2013. Hôn lễ của chị và anh H1 được hai bên gia đình tổ chức theo phong tục Việt Nam. Sau khi kết hôn, chị và anh H1 về chung sống với nhau, thời gian đầu, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc, không có mâu thuẫn gì lớn trong khoảng thời gian năm năm. Từ năm 2018, kinh tế của vợ chồng gặp khó khăn, cả chị và anh H1 đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống. Cũng chính vì lý do kinh tế khó khăn nên từ năm 2023, chị đã bỏ chồng, con, sang Australia lao động và sinh sống từ đó đến nay. Nay, nhận thấy vợ chồng sống ly thân đã lâu, hiện mỗi người sống một nước, không ai còn quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có nên chị đã có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1 để hai bên giải phóng cho nhau, mỗi bên tự ổn định cuộc sống riêng của mình.

Về con chung: Chị và anh Ngô Quý H1 có ba con chung là: Ngô Bùi Đăng K, sinh ngày 25/7/2008; Ngô Bùi Danh K1, sinh ngày 23/4/2010; Ngô Bùi Nhật H2, sinh ngày 30/5/2018. Hiện nay, cả ba con chung của chị và anh H1 đều đang sống với ông bà ngoại, hàng tháng chị vẫn gửi tiền về cho bố mẹ chị để chăm sóc, nuôi con. Ly hôn, chị và anh H1 thoả thuận thống nhất đề nghị Toà án giải quyết giao cả ba con chung của anh chị cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Chị và anh Ngô Quý H1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, bị đơn là anh Ngô Quý H1 trình bày:

Anh H1 thống nhất với chị Bùi Thị H về thời gian kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng. Anh Ngô Quý H1 có quan điểm đồng ý với yêu cầu ly hôn mà chị Bùi Thị H đưa ra. Anh Ngô Quý H1 thống nhất với lời khai của chị Bùi Thị H về việc vợ chồng có ba con chung là: Ngô Bùi Đăng K, sinh ngày 25/7/2008; Ngô Bùi Danh K1, sinh ngày 23/4/2010; Ngô Bùi Nhật H2, sinh ngày 30/5/2018. Ly hôn, anh và chị Bùi Thị H đã thống nhất thỏa thuận đề nghị Toà án giải quyết giao cả ba con chung của anh chị cho chị Bùi Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung, anh Ngô Quý H1 có cùng có quan điểm với chị Bùi Thị H là hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị Bùi Thị H đang ở nước ngoài, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, theo quy định tại khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí và quyền kháng cáo được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ, cũng như lời trình bày của các đương sự,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Bùi Thị H có đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Ngô Quý H1. Đây là vụ án hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Bùi Thị H hiện đang cư trú ở nước ngoài, bị đơn anh Ngô Quý H1 hiện đang cư trú ở thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên toà, chị Bùi Thị H và anh Ngô Quý H1 đều vắng mặt và đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt chị Bùi Thị H và anh Ngô Quý H1.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Ngô Quý H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã được Ủy ban nhân dân phường D (nay là phường T), quận L, thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 03/10/2013. Theo quy định tại Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị Bùi Thị H và anh Ngô Quý H1 cùng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, trong quá trình chung sống vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, hiện mỗi người sống một nước, không ai quan tâm đến ai, không còn yêu thương nhau. Nay, cả hai bên cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên việc chị Bùi Thị H có đơn xin ly hôn với anh Ngô Quý H1 là có căn cứ chấp nhận. Xét quan hệ hôn nhân của chị Bùi Thị H và anh Ngô Quý H1 là không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đề nghị xin được ly hôn của chị Bùi Thị H đối với anh Ngô Quý H1.

[4] Về con chung: Chị Bùi Thị H và anh Ngô Quý H1 có ba con chung là: Ngô Bùi Đăng K, sinh ngày 25/7/2008; Ngô Bùi Danh K1, sinh ngày 23/4/2010; Ngô Bùi Nhật H2, sinh ngày 30/5/2018. Chị H và anh H1 thống nhất thỏa thuận đề nghị Toà án giải quyết giao cả ba con chung cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Xét thỏa thuận của chị H và anh H1 về việc giao con chung là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế, phù hợp với nguyện vọng của con chung nên được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị H và anh H1 tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H và anh Ngô Quý H1 tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Bùi Thị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị H và anh Ngô Quý H1 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H được ly hôn anh Ngô Quý H1.
  2. Về con chung: Giao ba con chung Ngô Bùi Đăng K, sinh ngày 25/7/2008; Ngô Bùi Danh K1, sinh ngày 23/4/2010; Ngô Bùi Nhật H2, sinh ngày 30/5/2018 cho chị Bùi Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi; chị Bùi Thị H và anh Ngô Quý H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác về người trực tiếp nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H và anh Ngô Quý H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0001213 ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Bùi Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:

    Chị Bùi Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Anh Ngô Quý H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Cục THADS thành phố Hải Phòng;
  • - UBND phường Trần Nguyên Hãn;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Duy Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 137/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger