|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 03-6-2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh sang và bà Đào Thị Thu Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: không tham gia.
Ngày 03 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2025/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2025 về việc “tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 263/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị P, sinh năm 1987; địa chỉ: tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Huy Đ, sinh năm 1982; địa chỉ: tổ A, ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Võ Thị P trình bày: Bà P và ông Phạm Huy Đ do quen biết, tìm hiểu nhau và tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh An Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 168 ngày 11/9/2008. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do không tôn trọng nhau, tính tình không hợp nhau, cả hai cố gắng tìm cách hàn gắn nhưng nhưng không thể nào sống chung được nữa và ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy, tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đính hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Phạm Huy Đ; về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Phạm Võ Thiên T, sinh ngày 19/02/2008 và Phạm Võ Bảo T1, sinh ngày 27/01/2016, hiện đang sống với bà P, khi ly hôn bà P yêu cầu được tiếp tục nuôi con đến tuổi trưởng thành, bà P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết và về nợ chung: không có.
Bị đơn ông Phạm Huy Đ không gửi ý kiến cho Tòa án, vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Võ Thị P khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Phạm Huy Đ. Ông Đ có nơi cư trú trên địa bàn huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
[2] Bà Võ Thị P có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Phạm Huy Đ đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Võ Thị P và ông Phạm Huy Đ là hợp pháp vì ông bà có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng ông bà sống không hợp nhau, theo nguyên đơn trình bày phát sinh mâu thuẫn do không tôn trọng nhau, tính tình không hợp nhau, cả hai cố gắng tìm cách hàn gắn nhưng nhưng không thể nào sống chung được nữa và ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng bà P xin ly hôn với ông Đ, bà P, ông Đ không còn sống chung đến nay là một khoảng thời gian dài, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, chính vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho nên Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P.
[4] Về quan hệ con chung: Bà Võ Thị P xác định vợ chồng có 02 con chung Phạm Võ Thiên T, sinh ngày 19/02/2008 và Phạm Võ Bảo T1, sinh ngày 27/01/2016, con chung đang chung sống với bà P, khi ly hôn, bà P yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung đến tuổi trưởng thành. Xét thấy, con chung, còn nhỏ, đang được bà P chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển ổn định. Đồng thời, theo biên bản ghi ý kiến cháu T, cháu T1, các cháu có nguyện vọng được sống cùng với bà P trong trường hợp bà P, ông Đ ly hôn. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho con chung, giúp cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần, Hội đồng xét xử giao các cháu cho bà P được tiếp tục nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét đến.
[5] Về quan hệ tài sản chung: Bà Võ Thị P khởi kiện xác định yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
[6] Về nợ chung: Bà Võ Thị P khởi kiện xác định không có nên không xét đến.
[7] Về án phí: Bà Võ Thị P phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào,
- - Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị P.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị P ly hôn với ông Phạm Huy Đ.
- Về quan hệ con chung: Bà Võ Thị P được tiếp tục nuôi con chung là Phạm Võ Thiên T, sinh ngày 19/02/2008 và Phạm Võ Bảo T1, sinh ngày 27/01/2016. Ông Phạm Huy Đ, không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Bà Võ Thị P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Phạm Huy Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà Võ Thị P khởi kiện xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.
- Về nợ chung: Bà Võ Thị P khởi kiện xác định không có nên không xét đến.
- Về án phí: Bà Võ Thị P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm nộp án phí đã nộp 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0024200 ngày 03/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà Võ Thị P đã nộp đủ.
6) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thì thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |
Bản án số 137/2025/HNGĐ-ST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 137/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị P
