|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 137/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03 - 4 - 2025 Về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Ngọc Đăng.
Ông Võ Duy Bảo.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên chính, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Không.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 27/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: chị Hoàng Thị V, sinh ngày 16/4/1992
Nơi cư trú: xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú hiện nay: Tầng B, số C, đường K, quận X, thành phố T, Đài Loan, vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
Người được ủy quyền giao, nhận văn bản tố tụng của chị V: ông Nguyễn Đình G, sinh 1988; nơi cư trú: Ngõ A, đường C, quận B, thành phố Hà Nội.
-
Bị đơn: anh Lưu Đình T, sinh ngày 03/9/1989
Nơi cư trú: xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An, vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày của nguyên đơn - chị Hoàng Thị V như sau:
Chị và anh Lưu Đình T tự nguyện yêu thương và đăng ký kết hôn ngày 12/7/2011 được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 51-11 quyển số 05/11. Thời gian đầu sau kết hôn, chị V và anh T chung sống hạnh phúc. Năm 2016, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách, quan niệm sống không phù hợp, không hợp nhau dẫn đến bất đồng quan điểm. Mặc dù vợ chồng đã rất cố gắng, hai bên gia đình cũng đã góp ý nhưng hai bên không thể giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, không thể hòa hợp tính tình, mục đích hôn nhân không đạt được. Năm 2016, anh T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến năm 2020. Năm 2017, chị V đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Vợ chồng ly thân nhau từ tháng 01 năm 2018 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Lưu Đình T.
Về con chung: chị V, anh T có 02 con chung là Lưu Thị Trà M, sinh ngày 28/6/2012 và Lưu Đình Hoàng A, sinh ngày 23/9/2015, hiện đang sống cùng anh T tại xóm X, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, chị V, anh T thỏa thuận giao quyền chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung cho anh T.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị V, anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 13/3/2025, bị đơn – anh Lưu Đình T trình bày:
Anh T1 thừa nhận về điều kiện, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn như chị V đã khai ở trên. Năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, bất đồng tính cách và quan điểm sống và cách nhìn nhận cuộc sống. Năm 2016, anh đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Tháng 7 năm 2017 chị V cũng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan cho đến nay. Anh và chị V cùng làm việc tại Đài Loan. Năm 2020, khi hết hạn hợp đồng thì anh về Việt Nam sinh sống và làm việc. Mâu thuẫn giữa anh và chị V ngày càng trầm trọng, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung để xây dựng gia đình hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa anh và chị V đã kéo dài nhiều năm, không thể hàn gắn để xây dựng gia đình và nuôi dạy con cái được. Vì vậy, anh đồng ý ly hôn với chị V để giải phóng cho nhau.
Về con chung: anh T1 và chị V có 02 con chung Lưu Thị Trà M, sinh ngày 28/6/2012 và Lưu Đình Hoàng A, sinh ngày 23/9/2015, hiện đang ở cùng anh T1 tại xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, anh đồng ý trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của cháu Lưu Thị Trà M, Lưu Đình Hoàng A: Các cháu là con đẻ của bố T1, mẹ V và nếu bố mẹ ly hôn thì đều có nguyện vọng được ở với bố - anh Lưu Đình T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa theo qui định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- 1.1] Về thẩm quyền: bị đơn - anh Lưu Đình T có địa chỉ cư trú tại xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nguyên đơn - chị V nơi cư trú hiện nay: Tầng B, số C, đường K, quận X, thành phố T, Đài Loan, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38, Điều 39 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
- [1.2] Về thủ tục hòa giải: vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì hiện nay chị V, đang ở nước ngoài và đã có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, là phù hợp khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.
-
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn - chị Hoàng Thị V: có địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh tại xóm Đ, xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú hiện nay: Tầng B, số C, đường K, quận X, thành phố T, Đài Loan, chưa có điều kiện về Việt Nam giải quyết việc ly hôn với anh T nên ủy quyền cho ông Nguyễn Đình G, nơi cư trú: Ngõ A, đường C, quận B, thành phố Hà Nội nộp hồ sơ khởi kiện (có chứng thực của Đ tại Đài Loan) và đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt chị V.
Đối với bị đơn - anh Lưu Đình T: đã trực tiếp đến Tòa án để làm việc và tiếp cận công khai chứng cứ. Tuy nhiên, do công việc nên đã có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh T.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
- 2.1. Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng kết hôn số 51-11 quyển số 05/11của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì hôn nhân giữa chị Hoàng Thị V và anh Lưu Đình T là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Năm 2016 chị V, anh T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm. Mâu thuẫn giữa anh T và chị V ngày càng trầm trọng, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung để xây dựng gia đình hạnh phúc nên đã ly thân, không quan tâm chăm sóc gì nhau nhiều năm năm. Nay hai bên nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị V xin ly hôn và anh T nhất trí. Xét thấy tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị Hoàng Thị V và anh Lưu Đình T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần ghi nhận sự thống nhất và thỏa thuận của hai bên, áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 3, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị V và anh Lưu Đình T.
-
2.2. Về con chung: chị Hoàng Thị V và anh Lưu Đình T có 02 con chung là Lưu Thị Trà M, sinh ngày 28/6/2012 và Lưu Đình Hoàng A, sinh ngày 23/9/2015, hiện anh T đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và anh T có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung sau khi ly hôn. Xét thấy: sự thỏa thuận này của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, đồng thời phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mỗi bên cũng như đảm bảo quyền lợi về mọi mặt và sự phát triển của con chung, phù hợp nguyện vọng của các cháu, nên cần ghi nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị V, anh T tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- 2.3. Về tài sản chung, nợ chung: chị V, anh T không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: chị V, anh T thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, nên các phải đương sự phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên 25%).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều: 55, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35, các Điều: 37, 38, 39, khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469 và Điều 479 Bộ luật tố dụng dân sự; khoản 1 Điều 3, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: công thuận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị V và anh Lưu Đình T.
-
Về con chung: ghi nhận sự thỏa thuận của các bên như sau:
Anh Lưu Đình T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Lưu Thị Trà M, sinh ngày 28/6/2012 và Lưu Đình Hoàng A, sinh ngày 23/9/2015 đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí: căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T2 về án phí, lệ phí Tòa án; điểm a khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao: chị Hoàng Thị V phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đã nộp tạm ứng án phí; trả lại chị Hoàng Thị V 225.000đ (hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013852 ngày 06/01/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Anh Lưu Đình T phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm (anh T chưa nộp).
-
Về quyền kháng cáo:
- - Anh Lưu Đình T, vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật
- - Chị Hoàng Thị V, đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 137/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 137/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
