|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 137/2024/HSST
Ngày: 09 - 8 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Thái Thị Hồng Vân
Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ
Bà Bùi Thị Hoa
Ông Trần Văn Mão
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Chung, Kiểm sát viên.
Ngày 09/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 73/2024/HSST ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2024/QĐXX ngày 25 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đối với bị cáo:
Lữ Thị Q; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 15 tháng 10 năm 1972 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Trú tại: Bản C, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khơ Mú; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ học vấn: 0/12; Con ông: Lữ Văn D (Đã chết); Con bà: Ốc Thị S (Đã chết); Anh chị em ruột có 12 người (Bị cáo là con thứ 3); Chồng: Lữ Văn M, sinh năm 1972; Con: 03 con (Lớn nhất 33 tuổi, nhỏ nhất 28); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 28/12/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lữ Thị Q: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1980; Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt
- Bị hại: Chị Lương Thị L, sinh năm 2002. Địa chỉ Bản Minh T, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lữ Thị Q1. Địa chỉ: Bản M, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2015, Lữ Thị Q sang tỉnh Hà Nam, nước Trung Quốc sinh sống với con gái là Lữ Thị H1 (H1 lấy chồng người Trung Quốc). Vào năm 2016, Lữ Thị Q từ Trung Quốc về nhà ở bản C, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An sinh sống. Do khi sinh sống tại Trung Quốc, Lữ Thị Q biết được đàn ông Trung Quốc có nhu cầu mua phụ nữ Việt Nam về làm vợ nên Lữ Thị Q nảy sinh ý định tìm người đưa sang Trung Quốc bán. Tháng 5 năm 2016, Lữ Thị Q đang ở nhà thì có ông Lương Văn A, sinh năm 1977, trú tại Bản M, xã L, huyện T (Ông A có con gái là Lương Thị L, sinh ngày 15/11/2002), vào nhà Lữ Thị Q chơi. Lữ Thị Q biết được hoàn cảnh gia đình của ông Lương Văn A khó khăn, ông A có 01 người con gái nên Lữ Thị Q chủ động rủ rê, đặt vấn đề thuyết phục ông A để Lữ Thị Q đưa Lương Thị L sang nước Trung Quốc lấy chồng, Lữ Thị Q hứa sẽ đưa cho gia đình Lương Văn A số tiền 120.000.000 đồng nhưng ông A từ chối. Khoảng 20 ngày sau, Lữ Thị Q gặp chị Lương Thị L đang đi chơi trong bản Chẳm Puông, xã L, huyện T. Lữ Thị Q liền rủ chị L đi sang nước Trung Quốc làm việc, không làm việc thì lấy chồng, kiếm tiền cho gia đình, chị L không đồng ý và nói “để cháu về suy nghĩ đã”. Mấy ngày sau, Lữ Thị Q gặp chị L trong bản, Lữ Thị Q tiếp tục rủ chị L đi sang nước Trung Quốc làm việc. Lương Thị L đồng ý. Lữ Thị Q nói với chị L “sau khi sang nước Trung Quốc không làm việc thì lấy chồng, sẽ đưa cho bố mẹ cháu số tiền 120.000.000 đồng” sau đó Lữ Thị Q nói Lương Thị L về nhà chuẩn bị khoảng 02 ngày sau sẽ có người đến đón đi. Lữ Thị Q đã gọi điện thuê anh Lô Văn M1 (làm nghề lái xe ôm) 02 ngày sau đến chở chị L ra cầu K, thuộc bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An cho Q, anh M1 đồng ý.
Hai ngày sau, khoảng 15 giờ chiều, Lữ Thị Q ra cầu K thuộc bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An để lên xe khách đi V. Tại đây Q gặp Lô Văn M1 chở chị L đến, Q trả cho Lô Văn M1 số tiền 200.000 đồng và đưa Lương Thị L lên xe khách đi thành phố V, tỉnh Nghệ An, rồi đưa chị L đi xe khách ra đến thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, sau đó vượt biên bằng đường tiểu ngạch đi thuyền qua sông đến đất liền nước Trung Quốc. Lữ Thị Q tiếp tục đưa chị L đi bằng nhiều phương tiện khác nhau đến nhà con gái là Lữ Thị H1 ở tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Lữ Thị Q nhờ con rể (Chồng người Trung Quốc của Lữ Thị H1) tìm người đàn ông Trung Quốc cần mua Lương Thị L.
Khoảng 10 ngày sau có 03 người đàn ông Trung Quốc đến xem mặt chị Lương Thị L sau đó có một người đàn ông Trung Quốc đồng ý mua chị Lương Thị L làm vợ và đưa cho chồng của Lữ Thị H1 bao nhiêu tiền thì Q không biết, chỉ thấy chồng của Lữ Thị H1 đưa lại cho Q số tiền 4,1 vạn nhân dân tệ tiền Trung Quốc. Sau khi bán Lương Thị L xong Lữ Thị Q ở lại nhà con gái Lữ Thị H1 khoảng một tháng sau đó quay về Việt Nam. Về đến thành phố V, tỉnh Nghệ An, Lữ Thị Q đi vào một tiệm vàng đổi 4,1 vạn nhân dân tệ tiền Trung Quốc sang tiền Việt Nam đồng được 135.000.000 đồng. Lữ Thị Q cầm số tiền đó về nhà, sau đó đến nhà gia đình chị Lương Thị L đưa cho chị Lữ Thị Q1 (Mẹ của chị L) tổng cộng số tiền 120.000.000 đồng (lần thứ nhất đưa 30.000.000 đồng, lần thứ hai đưa 90.000.000 đồng). Lương Thị L lấy chồng Trung Quốc, đến tháng 11 năm 2023 thì được chồng cho về Việt Nam thăm gia đình.
Ngày 24/12/2023, chị Lương Thị L đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An tố cáo Lữ Thị Q đã đưa chị L sang Trung Quốc bán cho người đàn ông Trung Quốc làm vợ.
Sau khi điều tra xác minh, ngày 27/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Lữ Thị Q. Tại Cơ quan điều tra, Lữ Thị Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như trên.
Về vật chứng vụ án: Số tiền bị cáo Lữ Thị Q thu lợi bất chính đã tiêu hết, không thể thu giữ.
Về dân sự: Bị hại chị Lương Thị L không yêu cầu bị cáo Lữ Thị Q phải bồi thường số tiền nào, tuy nhiên gia đình Lữ Thị Q đã tự nguyện bồi thường cho chị L 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng)
Với nội dung trên, bản cáo trạng số 106/CT-VKSNA-P2, ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Lữ Thị Q về tội “Mua bán trẻ em” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 120, Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm b, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Lữ Thị Q từ 10 năm tù đến 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên dề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Truy thu tại bị cáo số tiền 15.000.000 đồng thu lợi bất chính.
Luật sư bào chữa cho bị cáo không tranh luận về chứng cứ và tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, là người dân tộc thiểu số; gia đình bị cáo có bố là thương binh. Đề nghị cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lữ Thị Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng đầu tháng 6 năm 2016, tại bản M, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lữ Thị Q đã đưa chị Lương Thị L (Lúc đó chị L mới 13 tuổi 7 tháng) sang Trung Quốc bán cho người đàn ông Trung Quốc không rõ lai lịch, địa chỉ lấy làm vợ với giá 4,1 vạn nhân dân tệ, tương đương 135.000.000 (Một trăm ba mươi lăm triệu) đồng, Lữ Thị Q được hưởng lợi số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Lữ Thị Quế P vào tội “Mua bán trẻ em” với tình tiết “Để đưa ra nước ngoài” hành vi diễn ra vào năm 2016, tại thời điểm đó Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 đang có hiệu lực pháp luật nên vi phạm quy định tại điểm e khoản 2 Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lữ Thị Q là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng không những xâm phạm danh dự, nhân phẩm và quyền tự do của trẻ em mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm mục đích vụ lợi. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh phù hợp tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Tuy nhiên, cũng xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lữ Thị Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có bố đẻ - ông Lữ Văn D là thương binh, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo Lữ Thị Q điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Số tiền 15.000.000 đồng là tiền bị cáo Lữ Thị Q thu lợi bất chính từ việc bán Lương Thị L1 cần truy thu, nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Trong vụ án này, đối với bà Lữ Thị Q1 (Mẹ đẻ của chị Lương Thị L) là người được Lữ Thị Q đưa cho số tiền 120.000.000 đồng, tuy nhiên Lữ Thị Q1 không tham gia, không biết việc Lữ Thị Q bán Lương Thị L đi Trung Quốc. Khi nhận tiền chị Q1 chỉ biết đó là tiền L gửi về từ Trung Quốc, không biết đây là tiền Lữ Thị Q bán con gái mình. Do đó không có căn cứ để xử lý Lữ Thị Q1.
Đối với Lô Văn M1 người được Lữ Thị Q thuê xe lai chở Lương Thị L ra cầu K thuộc bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Khi nhận lời chở chị L, Lô Văn M1 không biết mục đích của Lữ Thị Q đưa Lương Thị L đi bán. Do đó không có căn cứ để xử lý Lô Văn M1
Đối với Lữ Thị H1 (Con gái của Lữ Thị Q) hiện tại không có mặt tại địa phương. Theo lời khai của Lữ Thị Q hiện tại Lữ Thị H1 đang sinh sống tại tỉnh Hà Nam, nước Trung Quốc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đối với người đàn ông Trung Quốc (Chồng của Lữ Thị H1) là người tham gia bán Lương Thị L nhưng Lữ Thị Q không biết tên, địa chỉ cụ thể của người đang ông Trung Quốc đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
[9] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 120 Bộ luật hình sự năm 1999, điểm b,s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Lữ Thị Q 10 (M2) năm tù về tội “Mua bán trẻ em”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/12/2023.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Lữ Thị Q.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Truy thu, nộp ngân sách nhà nước tại bị cáo Lữ Thị Q số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lữ Thị Q phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 137/2024/HSST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự về tội "mua bán trẻ em"
- Số bản án: 137/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Mua bán trẻ em"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Lữ Thị Q 10 (M2) năm tù về tội “Mua bán trẻ em”
