Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 137/2024/HS-PT

Ngày 26 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoài Nam.

Các Thẩm phán: 1. Ông Phạm Viết Hùng

2. Ông Nguyễn Văn Hậu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thăng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 100/HSPT ngày 18 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Các bị cáo kháng cáo:

1. Lê Văn T (tên gọi khác: Q), sinh năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 325 ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê Văn Q1 và bà Nguyễn Thị Kim H; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 23/01/2021, bị Công an huyện C xử phạt hành chính 1.250.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” theo Quyết định số 1189. Bị bắt tạm giam từ ngày 09/3/2023, đến ngày 30/8/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp bảo lĩnh, đến ngày 09/11/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ bảo lĩnh sang cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Thái Ngọc H1, sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 9/12; con ông Thái Văn H2 và bà Võ Thị T1; có vợ và 01 con (sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

3. Hồ Văn T2 (tên gọi khác: T2 hô), sinh năm 2003 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 15/3/3 ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 8/12; Con ông Hồ Văn T3 và bà Phan Thị Kim P; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Bị hại:

Ông Nguyễn Hoàng M, sinh năm 1997; Thường trú: ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 26/10/2022, Hồ Văn T2, Thái Ngọc H1 và Nguyễn Chí D đang uống rượu tại nhà Võ Hoàng Anh D1 (số D ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) thì Nguyễn Hoàng M đi đến và hỏi ai đã chạy xe rú ga trước nhà M. D1 đã đứng ra xin lỗi M. Do T2 và M có mâu thuẫn từ trước nên M đã chửi T2 nên T2 lấy con dao gọt trái cây có sẵn trên bàn chạy ra và dùng tay phải đâm một nhát theo hướng từ sau ra trước làm gãy cán dao và lưỡi dao dính vào mông bên phải của M gây thương tích. D chạy ra can ngăn, kéo T2 vào nhà và đóng cửa cổng lại. Còn M chạy xe về nhà rút lưỡi dao ra, rồi lấy một con dao tự chế mũi nhọn, dài 50cm, điều khiển xe máy đi tìm nhóm của T2 để đánh.

Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi M chạy xe đến trước nhà của Lê Văn T (số C ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh) thì nhìn thấy D đang chạy xe nên M chạy xe vượt lên và chặn đầu xe của D, rồi M dùng dao tự chế chém vào xe và vào người D. D ngã người ra sau để tránh nên bị chém sượt qua phần dưới tai bên trái gây thương tích. D bỏ chạy, nhặt đá ném về phía M và gọi T ra hỗ trợ. T từ trong nhà chạy ra mang theo một con dao chặt thịt (dài khoảng 20cm) nhưng D giật lấy con dao của T nên bị M dùng dao tự chế đâm vào đùi bên trái. Cùng lúc này H1 chạy xe đến nhìn thấy nên H1 đã cầm khúc cừ tràm dài 125cm, đường kính khoảng 04cm đánh vào tay M làm rơi con dao tự chế. Khi M khom người xuống lấy con dao thì D dùng dao chặt thịt chém vào lưng của M, còn T lấy con dao tự chế của M chém vào vùng đầu của M. Sau đó, D ôm vật M ngã xuống đường, T tiếp tục cầm dao tự chế chém vào lưng và tay M. H1 cầm khúc cừ tràm, dài khoảng 80 cm đánh M. Lúc này bạn của M là Lê Tấn S chạy đến thì bị T dùng dao tự chế chém nên S đưa tay trái lên đỡ thì bị thương tích ở cổ tay trái. Sau đó T được người nhà kéo vào trong nhà, D nhặt một khúc cây vuông dài 93 cm cùng H1 tiếp tục dùng cây đánh M. Khi nghe có người báo công an thì D mới bỏ đi, H1 cũng chạy xe về nhà. Song tự đi ra trạm y tế xã B băng bó vết thương. M được người nhà đến đưa ra trạm y tế xã B sau đó được chuyển đến Bệnh viện N để điều trị.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 297/TgT.23 ngày 18/5/2023 của Trung tâm P1 - Sở Y tế Thành phố H kết luận thương tích Lê Tấn S như sau:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • - Vết thương mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái gây đứt da, đứt gân duỗi các ngón, gân duỗi ngón cái, gân duỗi cổ tay quay, mẻ xương quay (ảnh 1) đã được điều trị mở rộng vết thương, khân gân da, hiện còn:
      • + Một sẹo trùng sẹo mổ kích thước 14,2 x 0,1 cm. (ảnh 2,3).
      • + Hình ảnh mẻ xương trên phim chụp XQuang (ảnh 4) và đứt gân không hoàn toàn trên siêu âm.
      • + Vận động, cảm giác bình thường.
  2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:
    • - Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 05% (năm phần trăm).
  3. Kết luận khác:
    • - Thương tích do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra, không gây nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

    Theo thông tư số 22/2019/TT-BYT không quy định về cố tật và tính thẩm mỹ đối với trường hợp này.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 383/TgT.23 ngày 12/6/2023 của Trung tâm P1 – Sở Y tế Thành phố H kết luận thương tích Nguyễn Hoàng M như sau:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:

    Theo hồ sơ bệnh án của Bệnh viện N vào viện ngày 27/10/2022, ra viện lúc 10 giờ ngày 28/10/2022:

    • - Vết thương vùng đỉnh sau trái gây đứt da, nứt bản ngoài sọ đỉnh trái (ảnh 1) đã được điều trị, hiện còn một sẹo kích thước 4 x 0,15 cm (ảnh 2), hình ảnh nứt xương trên phim chụp cắt lớp vi tính (ảnh 3).
    • Có tỉ lệ 06% (Sáu phần trăm).

    • - Vết thương vùng cột sống thắt lưng đã được điều trị, hiện còn:
      • + Một sẹo kích thước 2,7 x (0,3-0,7) cm (ảnh 4).
      • + Hình ảnh mẻ mỏm gai đốt sống thắt lưng ngay dưới vị trí vết thương trên phim chụp cắt lớp vi tính (ảnh 5).

      Có tỉ lệ 02 % (Hai phần trăm).

      Hai thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra.

    • - Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn các sẹo tại:
      • + Vùng trán đỉnh kích thước 6,5 x 0,2 cm (ảnh 7).

      Có tỉ lệ 02 % (Hai phần trăm).

      Thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc, vật tày hoặc tày có cạnh tác động gây ra.

      • + Vùng mông phải kích thước 1,5 x 0,3 cm (ảnh 8).
      • + Mặt lòng đốt gần ngón V bàn tay phải kích thước 1,3 x 0,1 cm (ảnh 9).
      • + Mặt lòng đốt gần ngón III, IV, V bàn tay trái kích thước lần lượt là 2 x 0,1 cm (ảnh 10.1), 0,8 x 0,3 cm (ảnh 10.2) và 1 x 0,1 cm (ảnh 10.3).

      Có tỉ lệ 01 % (Một phần trăm) mỗi vết.

      Các thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

      Tất cả các thương tích trên không gây nguy hiểm đến tính mạng.

      Theo Hồ sơ bệnh án của Bệnh viện N vào viện lúc 16 giờ 22 phút ngày 28/10/2022 và Công văn trả lời số 564/BVND115 ký ngày 13/3/2023 của Bệnh viện N ghi nhận đương sự than đau lưng, kết quả chụp XQuang cột sống thắt lưng ghi nhận tình trạng gãy mỏm ngang thắt lưng 1, 2 bên trái đã được điều trị, hiện còn hình ảnh gãy xương trên phim chụp cắt lớp vi tính (ảnh 6).

      Về tình trạng gãy mỏm ngang trên không đủ cơ sở xác định:

      • + Cơ chế hình thành thương tích.
      • + Có liên quan đến vụ việc ngày 26/10/2022 hay không.
  2. Theo thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:
    • Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên theo Hồ sơ bệnh án của Bệnh viện N vào viện ngày 27/10/2022 hiện tại là: 14% (Mười bốn phần trăm).
    • Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên theo Hồ sơ bệnh án của Bệnh viện N vào viện ngày 28/10/2022 hiện tại là: 11% (Mười một phần trăm).
  3. Kết luận khác:
    • - Thông tư số 22/2019/TT-BYT không quy định: về cố tật và tính thẩm mỹ đối với trường hợp này.

Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Lê Văn T, Thái Ngọc H1 và Hồ Văn T2 phạm tội “Cố ý gây thương tích".

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/3/2023 đến ngày 30/8/2023).

Xử phạt bị cáo Thái Ngọc H1 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Hồ Văn T2 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt bị cáo Nguyễn Chí D 12 (mười hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

  • - Ngày 29/01/2024, bị cáo Thái Ngọc H1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Ngày 01/02/2024, bị hại Nguyễn Hoàng M rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Hồ Văn T2.
  • - Ngày 02/02/2024, bị cáo Hồ Văn T2 kháng cáo yêu cầu đình chỉ đối với hành vi phạm tội của bị cáo do người bị hại rút toàn bộ yêu cầu khởi tố đối với bị cáo T2.
  • - Ngày 02/02/2024, bị cáo Lê Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Bị hại M giữ nguyên yêu cầu rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo T2

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhận định án sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mức hình phạt đã tuyên là thỏa đáng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo H1 và bị cáo T không có tình tiết mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo đối bị cáo H1 và bị cáo T, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với 02 bị cáo trên. Do bị hại Nguyễn Hoàng M rút yêu cầu khởi tố đối bị cáo Hồ Văn T2 nên đình chỉ vụ án đối với bị cáo T2.

Các bị cáo không tranh luận, lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26/10/2022, tại nhà số D ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Hồ Văn T2 đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là con dao gọt trái cây (lưỡi dao nhọn, màu trắng, dài 11cm) đâm vào mông bên phải của Nguyễn Hoàng M gây thương tích, qua giám định có tỷ lệ 01%. Đến khoảng 23 giờ 30 cùng ngày, bị cáo Lê Văn T, Nguyễn Chí D và Thái Ngọc H1 đã có hành vi dùng dao tự chế dài 50cm, mũi nhọn; dao chặt thịt (cán gỗ, lưỡi dao hình chữ nhật, dài khoảng 20cm) và các khúc cây để chém và đánh Nguyễn Hoàng M gây thương tích ở vùng đầu, lưng và tay qua giám định có tỷ lệ 13%. Ngoài ra, bị cáo T còn có hành vi dùng dao tự chế dài 50cm, mũi nhọn chém vào cẳng tay trái của Lê Tấn S gây thương tích, qua giám định có tỷ lệ 05%.

[2] Với hành vi khách quan nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Lê Văn T và Thái Ngọc H1 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và bị cáo Hồ Văn T2 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Sau khi xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại Nguyễn Hoàng M giữ nguyên nội dung rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo Hồ Văn T2. Do vụ án “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo T2 khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nay bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố, xét việc rút yêu cầu khởi tố này là tự nguyện, không bị ai ép buộc và phù hợp với luật định nên căn cứ khoản 2 Điều 155; Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử hủy một phần bản án sơ thẩm đối với bị cáo Hồ Văn T2 và đình chỉ vụ án đối với bị cáo Hồ Văn T2. Do hủy một phần bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xét đơn kháng cáo của bị cáo Hồ Văn T2.

Xét, yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Lê Văn T và Thái Ngọc H1, khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo T và bị cáo H1 là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo T 01 năm 3 tháng tù, xử phạt bị cáo H1 12 tháng tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo T và bị cáo H1; chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên và giữ nguyên mức hình phạt tù của bản án sơ thẩm.

[3] Xét về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Lê Văn T và Thái Ngọc H1 phải chịu án phí phúc thẩm, bị cáo Hồ Văn T2 không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357; khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Hủy một phần bản án sơ thẩm đối với bị cáo Hồ Văn T2. Đình chỉ vụ án đối với bị cáo Hồ Văn T2.

    Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn T và Thái Ngọc H1 và giữ nguyên phần bản án sơ thẩm đối với bị cáo T và bị cáo H1.

  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/3/2023 đến ngày 30/8/2023).

    Xử phạt bị cáo Thái Ngọc H1 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Bị cáo Lê Văn T và Thái Ngọc H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

    Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TC;(1)
  • - TAND Cấp cao tại Tp. HCM;(1)
  • - VKSND Tp. HCM;(3)
  • - VKSND huyện Cần Giờ, (1)
  • - THA-DS huyện Cần Giờ; (1)
  • - TAND huyện Cần Giờ; (4)
  • - Công an huyện Cần Giờ; (1)
  • - Phòng PC 53 - CA TP. HCM; (2)
  • - Bị cáo; (3)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (3)
  • - Lưu, hình sự, hồ sơ. (25) (4)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Hoài Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 137/2024/HS-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 137/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger